- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Văn N - Trần Thị D"
- Tòa quyết gì? Xét xử vắng mặt đối với anh Phạm Văn N và chị Trần Thị D.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2022/HNGĐ-ST Ngày: 10-5-2022 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Bảo Trâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Kim Chung
Ông Đinh Chí Hiển
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Chúc Ni là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
Ngày 10 tháng 5 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 79/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 3 năm 2022 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2022/QĐXX-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Phạm Văn N, sinh năm 1987, có đơn xin vắng mặt
Địa chỉ: Ấp R, xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển, tỉnh Cà Mau.
2. Bị đơn: Chị Trần Thị D, sinh năm 1990, có yêu cầu xin vắng mặt
Địa chỉ: Ấp 8, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 17/02/2022, anh Phạm Văn N trình bày:
Về hôn nhân: Anh N và chị D tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Lộc Bắc, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 16/5/2013. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không hạnh phúc, không có tiếng nói chung. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2014 đến nay. Vì vậy, anh N yêu cầu được ly hôn với chị D.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án anh N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
* Tại bản tự khai ngày 22/4/2022, chị Trần Thị D trình bày:
Chị D thống nhất ly hôn theo yêu cầu của anh N do quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Không có.
Đồng thời vì bận đi làm xa nên chị xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình giải quyết vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
Anh Phạm Văn N khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Trần Thị D. Do anh chị chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; chị D có địa chỉ tại ấp 8, xã T, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của anh N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, anh N và chị D đều có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt anh chị theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Anh Phạm Văn N và chị Trần Thị D tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Lộc Bắc, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 16/5/2013. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án anh N yêu cầu ly hôn với chị D. Xét thấy, yêu cầu của anh N là có cơ sở. Bởi vì, thời gian chung sống anh chị có phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi nhau và hiện tại đã sống ly thân từ năm 2014 đến nay. Mặt khác, Tòa án có tổ chức hòa giải để anh chị có điều kiện gặp nhau thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả do chị D vắng mặt không có lý do. Đồng thời, chị D cũng thống nhất ly hôn theo yêu cầu của anh N. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho anh Phạm Văn N và chị Trần Thị D được ly hôn.
Về con chung, tài sản chung, nợ chung: Anh N, chị D xác định anh chị không có con chung, tài sản chung và nợ chung. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Phạm Văn N phải chịu án phí theo Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 56 của luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Xét xử vắng mặt đối với anh Phạm Văn N và chị Trần Thị D.
2. Về hôn nhân: Anh Phạm Văn N và chị Trần Thị D được ly hôn.
3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Phạm Văn N phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 04 tháng 3 năm 2022 anh N có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0014795 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Anh N, chị D vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Thới Bình; - Chi cục THADS huyện Thới Bình; - TAND tỉnh Cà Mau; - UBND xã Tân Lộc Bắc; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Thị Bảo Trâm |