vanban.org

Bản án 50/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 243, 266, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 09, 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngy 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Ng. Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Thanh Ng được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Trọng An, sinh ngày 05/4/2013; Nguyễn Phúc An, sinh ngày 07/3/2015. Chị L không phải cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị L - Nguyễn Thanh Ng"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 243, 266, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 09, 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngy 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 09 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

HUYỆN NGỌC H
TỈNH CÀ MAU
Bản án số: 50/2022/HNGĐ-ST
Ngày 10 - 6 - 2022
“Về việc ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC H, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Minh Tính

Các vị Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Quách Văn Vệ

2. Ông Hà Bảo Hiền

- Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Lợi - Là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ngọc H, tỉnh Cà Mau.

Trong ngày 10 tháng 6 năm 2022, Tòa án nhân dân huyện Ngọc H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 45/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 02 năm 2022. Về việc “Ly hôn, nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1991 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp Cồn Cát, xã Viên An, huyện Ngọc H, Cà Mau.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Thanh Ng, sinh năm 1983 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Cồn Cát, xã Viên An, huyện Ngọc H, Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 08/02/2022 và các lời khai của nguyên đơn chị Nguyễn Thị L trình bày:

Về hôn nhân: Chị L và anh Ng kết hôn ngày 31/5/2013 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Viên An, huyện Ngọc H, tỉnh Cà Mau. Nguyên nhân xãy ra mâu thuẩn: Hôn nhân là do gia đình hai bên sắp đặt không tìm hiểu nhau trước khi kết hôn dẫn đến trong cuộc sống vợ chồng bất đồng quan điểm, sống với nhau không cảm thấy hạnh phúc, đồng thời gia đình bên chồng rất khắc khe, khó khăn với tôi, không cho tôi được tự do trong cuộc sống và chồng thì nghe lời cha mẹ, bao nhiêu tiền làm ra cũng lo cho cha mẹ mình mà không lo cho vợ, chồng lại có thái độ coi thường và không tôn trọng gia đình bên vợ. Nay bản thân xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, không thể duy trì bền lâu được nên tôi yêu cầu xin được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Ng.

Về con chung: Chị L trình bày vợ chồng chung sống có 02 con chung tên Nguyễn Trọng An, sinh ngày 05/4/2013; Nguyễn Phúc An, sinh ngày 07/3/2015 hiện đang sống chung với anh Ng. Sau khi ly hôn chị L yêu cầu giao 02 con cho anh Ng nuôi, chị L không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị L trình bày vợ chồng chung sống không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị L trình bày vợ chồng chung sống không có nợ ai, không ai nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với anh Nguyễn Thanh Ng, sau khi Tòa án thụ lý vụ án đã thông báo cho anh Ng biết về nội dung yêu cầu tại đơn khởi kiện ngày 08/02/2022 nhưng anh Ng không có ý kiến gì. Tòa án triệu tập hợp lệ anh Ng để tham gia phiên hòa giải đến lần thứ hai nhưng anh Ng không đến và cũng không có văn bản gì gửi đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của chị L. Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng anh Ng vắng mặt không lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt anh Ng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

- Về thẩm quyền giải quyết: Xét thấy bị đơn anh Nguyễn Thanh Ng có nơi cư trú trên địa bàn huyện Ngọc H, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ngọc H theo quy định tại Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ pháp luật: Xét đơn của chị Nguyễn Thị L khởi kiện xin ly hôn với anh Nguyễn Thanh Ng và yêu cầu được nuôi con nên xác định quan hệ tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh Ng kết hôn ngày 31/5/2013 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Viên An, huyện Ngọc H, tỉnh Cà Mau nên đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Xét thấy, chị L và anh Ng không còn chung sống với nhau từ tháng 02 năm 2021 cho đến nay. Đối với anh Ng, Tòa án đã triệu tập xét xử đến lần thứ hai nhưng anh Ng vắng mặt không lý do, đồng thời anh Ng cũng không có văn bản về ý kiến của mình gửi đến Tòa án chứng tỏ anh Ng đồng ý với yêu cầu của chị L. Hội đồng xét xử xét thấy, chị L và anh Ng đã ly thân từ tháng 01 năm 2022 đến nay tuy thời gian không dài nhưng anh Ng không tạo điều kiện để hàn gắn tình cảm vợ chồng để được đoàn tụ, chứng tỏ mâu thuẫn của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị L được ly hôn với anh Ng là phù hợp.

Về con chung: Chị L trình bày vợ chồng chung sống có 02 con chung tên Nguyễn Trọng An, sinh ngày 05/4/2013; Nguyễn Phúc An, sinh ngày 07/3/2015 hiện đang sống chung với anh Ng. Sau khi ly hôn chị L yêu cầu giao 02 con cho anh Ng nuôi, chị L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Theo lời trình bày và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án thấy rằng điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và đảm bảo cuộc sống cho các cháu Nguyễn Trọng An và cháu Nguyễn Phúc An thì anh Ng có đủ điều kiện. Xét thấy, cháu Trọng An và cháu Phúc An đã sống chung với anh Ng từ nhỏ, ổn định cuộc sống, tinh thần đồng thời phù hợp với đơn trình bày ngày 26/5/2022 các cháu đều có nguyện vọng muốn được ở với anh Ng. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục giao con cho anh Ng nuôi dưỡng là phù hợp. Đối với chị L là mẹ của các cháu Trọng An và cháu Phúc An vẫn có quyền được thăm nom con mà không ai được phép ngăn cản.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị L và anh Ng không đặt ra yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

Về tài sản chung: Chị L trình vợ chồng không có tài sản chung, anh Ng không ý kiến gì nên không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp về tài sản thì chị L và anh Ng có quyền khởi kiện thành vụ kiện chia tài sản sau ly hôn.

Về nợ chung: Chị L trình vợ chồng không có nợ chung, anh Ng không ý kiến gì nên không xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng: Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 243, 266, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 09, 51, 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngy 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

- Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn với anh Nguyễn Thanh Ng.

- Về con chung: Giao cho anh Nguyễn Thanh Ng được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Nguyễn Trọng An, sinh ngày 05/4/2013; Nguyễn Phúc An, sinh ngày 07/3/2015. Chị L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Chị Nguyễn Thị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị L phải chịu án phí số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng), chị L có dự nộp tạm ứng án phí số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0019960 ngày 18/02/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc H được chuyển thu.

Trong trường hợp Bản án (Quyết định) được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được Thi hành án dân sự, người phải Thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai, chị L có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với anh Ng được quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai. Nơi gửi:

Cỡ chữ