vanban.org

Bản án 50/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thu H;

Bà Phạm Thị Thu H được ly hôn đối với ông Võ Thanh G. 2/- Về con chung: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Thu H và Võ Thanh G"
  • Tòa quyết gì? 1/- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thu H;
  • Căn cứ chính? Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG ĐIỀN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
Bản án số: 50/2022/HNGĐ-ST.
Ngày 07/6/2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN -TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU.

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Nghĩa.

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thủy.

2. Ông Nguyễn Bá Lộc.

Thƣ ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền tham gia phiên tòa: Ông Vũ Văn Long - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2022, tại Tòa án nhân dân huyện Long Điền, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 155/2022/TLST-HNGĐ ngày 19/4/2021 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 52/2022/ QĐXXST- HNGĐ ngày 09/5/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2022/ QĐST-HNGĐ ngày 23/5/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thu H, sinh năm: 1984. (Có mặt)

Địa chỉ: 8/12 C1, ấp An, xã A1, huyện L, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

- Bị đơn: Ông Võ Thanh G, sinh năm: 1976. (Vắng mặt)

Địa chỉ thường trú: 8/12 C1, ấp An, xã A1, huyện L, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu.

Chỗ ở: khu phố 4, phường Hiệp Thành, quận X, thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Tại đơn khởi kiện và các lời khai tại tòa án, bà Phạm Thị Thu H có yêu cầu nhƣ sau:

Bà H và ông Võ Thanh G tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2006. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc nhưng đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng ý kiến, cãi vã nhau nhiều lần, bà H về nhà ở với con

- 1 -

tại An Ngãi từ năm 2018, Ông G có về nhà thăm con, nhưng giữa bà H và ông G không còn quan tâm đến nhau và ly thân từ năm 2019 đến nay.

Nay bà H yêu cầu được ly hôn đối với ông G.

- Về con chung: có 02 con chung là Võ Đăng Khoa sinh ngày 08/3/2007 và Võ Đăng Khôi sinh ngày 27/11/2017. Bà H yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng hai người con, không yêu cầu ông G cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà H và ông G không tranh chấp về tài sản chung, không có nợ chung.

* Tại bản khai, biên bản hòa giải, ông Võ Thanh G có ý kiến như sau:

Ông G và bà H tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2006. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc từ 2006 đến 2008 tại xã A, đến năm 2009 thì ông G, bà H ở thành phố Hồ Chí Minh, vợ chồng ở trọ tại quận X. Đến năm 2018, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nhỏ là do cãi vã với nhau vài lần, vào đầu năm 2018 bà H về An Ngãi ở, ông G vẫn về thăm nhà, vợ chồng vẫn quan hệ tình cảm bình thường, do tình hình dịch bệnh, ông G không có về nhà từ tháng 5 năm 2021 đến nay.

Nay bà H yêu cầu được ly hôn thì ông G không đồng ý vì ông G vẫn còn tình cảm với bà H.

- Về con chung: có 02 con chung là Võ Đăng K sinh ngày 08/3/2007 và Võ Đăng Kh sinh ngày 27/11/2017.

- Về tài sản chung và nợ chung: ông G không yêu cầu ly hôn nên không tranh chấp về tài sản chung, không có nợ chung.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền phát biểu ý kiến:

Về thủ tục xét xử vụ án:

Tòa án nhân dân huyện Long điền thụ lý vụ án đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự ;

Bà Phạm Thị Thu H tuân thủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, ông Võ Thanh G không chấp hành quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, vắng mặt hai lần không có lý do, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Long Điền xét xử vắng mặt ông G.

Về nội dung vụ án, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Tòa án nhân dân huyện Long Điền chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Thu H, giao hai người con là: Võ Đăng K và Võ Đăng Kh cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn. Về thẩm quyền giải quyết vụ án, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Điền.

- 2 -

Về thủ tục xét xử vụ án: Tòa án nhân dân huyện Long Điền đã triệu tập hợp lệ, bà Phạm Thị Thu H có mặt, ông Võ Thanh G vắng mặt hai lần không có lý do (Vắng mặt tại các phiên tòa ngày 23/5/2022 và vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa hôm nay). Theo quy định tại điều 227 bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Long Điền xét xử vắng mặt ông Võ Thanh G.

Về nội dung vụ án, xét thấy:

Bà Phạm Thị Thu H và ông Võ Thanh G tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2006, có đăng ký kết hôn.

Bà Phạm Thị Thu H và ông Võ Thanh G chung sống đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẩn do bà H và ông G bất đồng ý kiến, có nhiều lần cãi vả. Từ những mâu thuẫn kể trên, theo ông G thì vợ chồng đã ly thân từ năm 2021 đến nay.

Xét thấy mâu thuẫn giữa bà Phạm Thị Thu H và ông Võ Thanh G là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Thu H.

Về con chung:

Bà Phạm Thị Thu H và ông Võ Thanh G có hai con chung là: Võ Đăng K, sinh ngày 08/3/2007 và Võ Đăng Kh, sinh ngày 27/11/2017, bà H đang nuôi dưỡng.

Qua lời trình bày của đương sự và ý kiến của con của đương sự cho thấy: Sau khi bà H, ông G ly thân thì các em Võ Đăng Khoa và Võ Đăng Khôi được bà H nuôi dưỡng, nên giao hai người con cho bà H nuôi dưỡng là phù hợp thực tế, đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của con. Tạm thời, bà H không có yêu cầu tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con.

Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết, bà Phạm Thị Thu H và ông Võ Thanh G có thể yêu cầu Tòa án giải quyết về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: bà Phạm Thị Thu H và ông Võ Thanh G không có tranh chấp tài sản chung và nợ chung nên không xét đến.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các điều 56, 81, 82, 84, điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình, điều 27 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí tòa án :

1/- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thu H;

Bà Phạm Thị Thu H được ly hôn đối với ông Võ Thanh G.

2/- Về con chung:

Giao hai người con chưa thành niên cho bà Phạm Thị Thu H trực tiếp nuôi dưỡng là: Võ Đăng K, sinh ngày 08/3/2007; Võ Đăng Kh, sinh ngày 27/11/2017.

Tạm thời, bà H không yêu cầu ông Võ Thanh G cấp dưỡng nuôi con;

- 3 -

Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết bà Phạm Thị Thu H và ông Võ Thanh G có thể yêu cầu Tòa án giải quyết về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con.

3/- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị Thu H và ông Võ Thanh G không có tranh chấp về tài sản chung và nợ chung.

4/- Về án phí:

- Bà Phạm Thị Thu H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004570 ngày 24/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền; Bà Phạm Thị Thu H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

- Ông Võ Thanh G không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

5/- Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xét xử phúc thẩm. * Nơi nhận:

Cỡ chữ