- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị N và anh Danh Đ.
- Căn cứ chính? Điều 17 Luật Phí và lệ phí; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ TP. CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2022/HNGĐ-ST Ngày 26-7-2022 V/v ly hôn giữa chị N và anh Danh Đ |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Viễn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Xuân Hiền
2. Ông Phạm Hồng Lưu
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Mạc Thị Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 96/2022/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 4 năm 2022 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 140/2022/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị N, sinh năm 1999 “có mặt”
Nơi cư trú: Ấp N, xã A, huyện T, tỉnh AG
2. Bị đơn: Anh Danh Đ, sinh năm 1989 “vắng mặt”
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp N, xã A, huyện T, tỉnh AG.
Nơi ở hiện nay: Ấp B, thị trấn CĐ, huyện CĐ, thành phố Cần Thơ
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 15/4/2022, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn chị N trình bày: Về quan hệ hôn nhân, chị N và anh Đ xác lập hôn nhân vào năm 2017, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng có thời gian chung sống hạnh phúc, nhưng gần đây xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng nhiều lần tìm biện pháp khắc phục nhưng không có kết quả. Năm 2019 vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Xét thấy, vợ chồng không còn cơ hội để đoàn tụ nên chị N xin ly hôn. Về nuôi con chung: Anh, chị có 01 con chung tên Danh Đ sinh ngày 12/6/2018. Về tài sản chung: Không có. Về nghĩa vụ trả nợ: không có.
Bị đơn anh Danh Đ vắng mặt, vụ kiện không tiến hành hòa giải được.
Tại phiên tòa:
Chị N giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn, con chung đồng ý giao cho anh Đ nuôi dưỡng.
Anh Đ vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Về tố tụng, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án, qua phân tích đánh giá chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị N. Cho chị N ly hôn với anh Đ. Con chung giao cho anh Đ nuôi dưỡng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ nhận định:
Về tố tụng: Anh Đ là bị đơn được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa lần thứ hai vắng mặt, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Đ.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị N và anh Đ xác lập hôn nhân năm 2017, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Vợ chồng có thời gian chung sống hạnh phúc nhưng năm 2019 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, mâu thuẫn giữa vợ chồng không còn biện pháp khắc phục nên chị N xin ly hôn. Quá trình tố tụng, anh Đ vắng mặt, không có văn nêu ý kiến về việc xin ly hôn của chị N. Xét thấy, hôn nhân giữa chị N và anh Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng số ly thân từ nhiều năm nay. Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn giữa chị N và anh Đ.
Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung đang sống cùng cha, chị N không tranh chấp quyền nuôi con nên giao con cho anh Đ tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp.
Về chia tài sản: Không có.
Về nghĩa vụ trả nợ: không có.
Về án phí: Chị N phải nộp 300.000đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39; Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 17 Luật Phí và lệ phí; Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị N và anh Danh Đ.
2. Về nuôi con chung: Giao cháu Danh Đ (nam) sinh ngày 12/6/2018 cho anh Danh Đ nuôi dưỡng.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc con chung cho chị N, không ai có quyền cản trở.
3. Về chia tài sản: Không có.
4. Nghĩa vụ trả nợ: Không có.
5. Về án phí: Chị N phải nộp 300.000đồng án phí sơ thẩm ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000đồng chị N đã nộp theo biên lai thu số 0009306 ngày 20/4/2022.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thị hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, sửa đổi bổ sung Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nguyên đơn có mặt, có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết tại Ủy ban nhân dân nơi cư trú hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - TAND TP. Cần Thơ; - VKSND huyện Cờ Đỏ; - Chi cục THADS huyện Cờ Đỏ; - UBND xã nơi đăng ký kết hôn; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG X ÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Minh Viễn |