vanban.org

Bản án 50/2022/HNGĐ-ST — Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Văn C.

Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Thúy K, sinh ngày 10/02/2008 cho chị Nguyễn Thị D tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Văn C không phải cấp dưỡng cho cháu K do chị D không có yêu cầu cấp dưỡng cho con. Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Văn C không trực tiếp nuô… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về nuôi con, chia tài sản của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc hủy kết hôn trái pháp luật — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THANH BÌNH
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:50/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 20-5-2022
V/v tranh chấp về ly hôn của nam,
nữ sống chung với nhau như vợ
chồng mà không đăng ký kết hôn
và nuôi con chung

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Bích Thơ

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phan Thanh Tâm.

2. Ông Võ Văn Phất.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Bích là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên toà: Ông Võ Thanh Trường Giang – Kiểm sát viên.

Trong các ngày 04, 20 tháng 5 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 57/2022/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2022 về tranh chấp hôn nhân gia đình, ly hôn của nam, nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn và nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2022/QĐXX-ST ngày 18 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị D, sinh năm: 1987;

Nơi cư trú: Số 100/B, ấp N, xã A, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm: 1984;

Nơi cư trú: Số 78/B, ấp N, xã A, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.

Nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt lần 2 không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 22/02/2022, các biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và trong quá trình xét xử;

- Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D trình bày: Chị D và anh C tự nguyện chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2006 nhưng không có đăng ký kết hôn, khi chung sống xảy ra nhiều mâu thuẩn do anh C không lo làm ăn, thường xuyên uống rượu, chửi mắn vợ con, nên mâu thuẩn ngày càng trầm trọng và đã ly thân từ tháng 9-2021 đến nay. Con chung có 01 người con tên Nguyễn Thị Thúy K, sinh ngày 10/02/2008 đang sống chung với chị D, tài sản chung và nợ chung không có. Nay chị Nguyễn Thị D yêu cầu được ly hôn với anh C, con chung yêu cầu được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Thúy K cho đến trưởng thành, không yêu cầu anh C cấp dưỡng, tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn anh Nguyễn Văn C vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải 02 lần, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh C không cung cấp văn bản ý kiến về việc yêu cầu khởi kiện của chị D, cũng như tham dự phiên hòa giải và phiên tòa 02 lần nên tòa án không thu thập được lời khai, ý kiến của anh C về yêu cầu khởi kiện của chị D.

Tại phiên tòa chị D trình bày: Chị D và anh C tự nguyện tìm hiểu khoảng 1 năm, sau đó sống chung như vợ chồng vào năm 2006, không có tổ chức đám cưới, không có đăng ký kết hôn, chung sống tại nhà của cha mẹ chồng được 02 năm. Sau đó ra riêng xây dựng 01 căn nhà gỗ tạp sàn lót ván, mái lợp tol, diện tích ngang 5m x dài 8m = 40m2, trên phần đất của cha mẹ ruột chị D cho tại ấp Nhứt, xã An Phong nhưng chưa chuyển quyền sử dụng đất. Chị D làm công việc hái ớt theo mùa, anh C làm phụ hồ, trong thời gian chung sống anh C hay uống rượu về đánh đập vợ con, đến tháng 7/2021 anh C nói đi làm hồ nhưng không về thăm vợ con các dịp lễ tết, không có gửi tiền về nuôi con và đã ly thân cho đến nay. Con chung tên Nguyễn Thị Thúy K sinh ngày 10/02/2008, hiện đang sống với chị D, nhưng đã nghỉ học. Nay chị D yêu cầu ly hôn với anh C, yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Thúy K, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung không có yêu cầu.

Tại phiên tòa kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện phát biểu ý kiến: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định. Về ý kiến giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Về hôn nhân không công nhận quan hệ vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Văn C. Về con chung giao cháu Nguyễn Thị Thúy K, sinh ngày 10/02/2008 cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc đến trưởng thành, anh C không cấp dưỡng nuôi con do chị D không có yêu cầu; Về tài sản chung và nợ chung không có nên không đặt ra xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1.] Về pháp luật tố tụng:

[1.1.] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh C, hiện nay đăng ký hộ khẩu thường trú ấp N, xã A, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn cư trú, nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2.] Về quan hệ pháp luật: Chị D và anh C chung sống như vợ chồng từ năm 2006, không có đăng ký kết hôn, nay chị D yêu cầu ly hôn với anh C, nên phát sinh tranh chấp về ly hôn của nam, nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 7 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.3.] Về pháp luật áp dụng: Tranh chấp ly hôn, nên Hội đồng xét xử áp dụng quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 để giải quyết.

[1.4.] Về việc vắng mặt bị đơn: Tại phiên tòa hôm nay bị đơn anh C vắng mặt lần thứ 2 không nêu lý do chính đáng, anh C đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, cha của anh C là ông Nguyễn Văn Hùng nhận thay và cam kết giao lại cho anh C. Hội đồng xét xử xét thấy bị đơn anh C cố tình vắng mặt, không có ý kiến để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh C là phù hợp và đúng theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2.] Về nội dung:

[2.1.] Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị D và anh C là hoàn toàn tự nguyện và thực tế đã xảy ra, chung sống với nhau từ năm 2006 nhưng không có đăng ký kết hôn theo luật định, nên đã vi phạm vào Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Tại khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.

Trong thời gian chung sống chị D và anh C phát sinh mâu thuẩn trầm trọng do bất đồng ý kiến, quan điểm sống không phù hợp, anh C không lo làm ăn, chăm sóc gia đình, đến nay không hàn gắn được. Chị D cương quyết ly hôn với anh C, do chị D và anh C chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, nên Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị D và anh C là phù hợp với Điều 9, Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.2.] Về con chung: Cháu Nguyễn Thị Thúy K, sinh ngày 10/02/2008, đang sống chung với chị D, chị D yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Thúy K cho đến trưởng thành, anh C không có ý kiến hay yêu cầu về việc nuôi dưỡng con chung. Căn cứ bản tự khai ngày 08/4/2022 của cháu K có nguyện vọng được sống chung với chị D. Để đảm bảo cho cháu K có cuộc sống ổn định, phát triển tốt, không gây ảnh hưởng về mặt tâm lý cho cháu khi cha mẹ ly hôn, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của cháu và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chưa thành niên sau khi ly hôn và phù hợp ý kiến của chị D và nguyện vọng của cháu K.

Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị D và nguyện vọng của cháu K, tiếp tục giao cháu Nguyễn Thị Thúy K, sinh ngày 10/02/2008 cho chị Nguyễn Thị D tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành đủ 18 tuổi là phù hợp với Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom cháu K không ai được cản trở.

[2.3.] Về cấp dưỡng nuôi con: Do nguyên đơn chị D không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.4.] Về tài sản chung: Không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.5.] Về nợ chung: Không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.6.] Về án phí:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Bị đơn anh Nguyễn Văn C không phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử do đó được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 7 Điều 28, khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và điểm a, b khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị D và anh Nguyễn Văn C.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Thúy K, sinh ngày 10/02/2008 cho chị Nguyễn Thị D tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh Nguyễn Văn C không phải cấp dưỡng cho cháu K do chị D không có yêu cầu cấp dưỡng cho con.

Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Văn C không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Anh Nguyễn Văn C không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Nguyễn Thị D có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của anh Nguyễn Văn C.

3. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị D phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị D đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001439 ngày 01/3/2022, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, chị D không phải nộp thêm.

Các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (ngày 20/5/2022). Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ