vanban.org

Bản án 50/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Cà Mau, tỉnh Cà Mau Tuyên án 17/03/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu K kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Buộc ông Võ Văn K thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S tính đến ngày xét xử sơ thẩm, ngày 17/3/2022 với tổng số tiền là 24.527.149 đồng, trong đó: Nợ gốc là 15.000.000 đồng, lãi trong hạn 6.351.432 đồng, lãi quá hạn 3.175.717 đồng. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông K còn phả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín - Võ Văn Khởi"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu K kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CÀ MAU
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2022/DS-ST
Ngày 17 tháng 3 năm 2022
Tranh chấp: Hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Út

Các Hội thẩm nhân dân: 1.Ông Võ Thanh Liêm

2.Ông Võ Sĩ Hùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Bích Như là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.

Ngày 17 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 422/2022/TLST-DS ngày 07 tháng 12 năm 2021 về việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2022/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 02 năm 2022, giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S

Địa chỉ trụ sở: 266 – 268, đường N, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D– chức vụ: Tổng Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Bình P– chức vụ: Chuyên viên quản lý nợ – Phòng kiểm soát rủi ro Ngân hàng thương mại cổ phần S -Chi nhánh Cà M (theo văn bản ủy quyền số 121/2022/UQ-CNCM ngày 16/3/2022) (Có mặt).

Nơi cư trú: Số 164A, đường N, phường A, thành phố Cà M, tỉnh Cà Mau.

-Bị đơn: Ông Võ Văn K, sinh năm 1965 (Vắng mặt)

Nơi cư trú: Số 7A, đường R, khóm A, phường B, thành phố Cà M, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn K kiện và bản tự khai, quá trình bổ sung tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, ông Nguyễn Bình P trình bày: Ngày 13/3/2019, ông Võ Văn K có ký giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng số 1215805 ngày 13/3/2019 tại Ngân hàng thương mại cổ phần S (gọi tắt là S) – Chi nhánh Cà M. Căn cứ thu nhập của ông Võ Văn K, S đã đồng ý cấp thẻ tín dụng tổng hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông K đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền 25.377.000 đồng, lãi suất thỏa thuận là 2.5%/tháng. Quá trình sử dụng thẻ, kể từ ngày kích hoạt thẻ ông K đã thanh toán cho S số tiền 21.103.348 đồng. Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của bản Điều Khoản và Điều Kiện của thẻ tín dụng. Do ông K vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại Điều của bản Điều Khoản và Điều Kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên ngày 23/4/2021 S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo Điều 23 của bản Điều Khoản và Điều Kiện phát hành thẻ tín dụng của Ngân hàng.

Tính đến ngày 17/3/2022 ông K còn nợ S số tiền 24.527.149 đồng, trong đó: Nợ gốc là 15.000.000 đồng, lãi trong hạn 6.351.432 đồng, lãi quá hạn 3.175.717 đồng. Nay S khởi kiện yêu cầu ông K phải thanh toán cho S tổng số tiền vốn và lãi tính đến ngày 17/3/2022 là 24.527.149 đồng và khoản nợ lãi phát sinh từ ngày 18/3/2022 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Đối với bị đơn ông Võ Văn K: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án như: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập để xét xử nhưng ông K vẫn vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa: Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.Ngoài ra, không có yêu cầu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín khởi kiện yêu cầu ông Võ Văn K thanh toán khoản tiền đã vay. Bị đơn hiện nay đang cư trú tại thành phố Cà M, tỉnh Cà Mau nên tranh chấp giữa các đương sự được xác định là tranh chấp hợp đồng vay tài sản thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án thành phố Cà Mau theo quy định tại các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng triệu tập ông Võ Văn K đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập xét xử nhiều lần nhưng ông K vắng mặt không có lý do vì vậy vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự và Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông K theo quy định tại các Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn trả nợ theo hợp đồng cấp thẻ tín dụng ngày 13/3/2019, Hội đồng xét xử nhận định như sau: Ngày 13/3/2019 ông Võ Văn K có ký giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng với S và được S đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông K tổng hạn mức sử dụng là 15.000.000 đồng với mục đích vay tiêu dùng cá nhân. Quá trình sử dụng thẻ, kể từ ngày kích hoạt thẻ ông K đã thanh toán cho S số tiền 21.103.348 đồng. Do ông K vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 23/4/2021 S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 17/3/2022 ông K còn nợ S số tiền 24.527.149 đồng, trong đó: Nợ gốc là 15.000.000 đồng, lãi trong hạn 6.351.432 đồng, lãi quá hạn 3.175.717 đồng.

Đối với bị đơn ông Võ Văn K đã được Tòa án tống đạt, thông báo cho ông K biết được yêu cầu K kiện của nguyên đơn nhưng ông K vẫn vắng mặt không lý do và cũng không có văn bản nêu ý kiến phản hồi gửi cho Tòa án. Đồng thời, Ngân hàng đã yêu cầu ông K trả nợ nhiều lần nhưng ông K cố tình né tránh, không trả nợ cho Ngân hàng. Hiện nay, ông K không còn cư trú tại địa phương, ông còn nợ Ngân hàng nhưng ông không báo cho Ngân hàng địa chỉ cư trú mới của ông để Ngân hàng biết. Cho thấy ông K cố tình giấu địa chỉ và không có thiện chí trả nợ cho Ngân hàng.

Do đó, Tòa án căn cứ vào những tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn nhận thấy: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng được ký giữa các bên là tự nguyện và đúng quy định pháp luật nhưng do ông K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ theo bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng nên Ngân hàng đã chuyển số tiền nợ sang dư nợ gốc và tính lãi quá hạn là đúng theo quy định tại mục 23 của bản Điều khoản và Điều kiện nêu trên. Căn cứ vào số dư nợ gốc, lãi suất thỏa thuận, có căn cứ xác định đến ngày 17/3/2022, ông K còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 24.527.149 đồng, trong đó: Nợ gốc là 15.000.000 đồng, lãi trong hạn 6.351.432 đồng, lãi quá hạn 3.175.717 đồng.

Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu K kiện nên nguyên đơn không phải chịu án phí, toàn bộ án phí đã dự nộp nên được nhận lại. Bị đơn phải chịu án phí dân sự có giá ngạch theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147 và Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng;

Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu K kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S.

Buộc ông Võ Văn K thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S tính đến ngày xét xử sơ thẩm, ngày 17/3/2022 với tổng số tiền là 24.527.149 đồng, trong đó: Nợ gốc là 15.000.000 đồng, lãi trong hạn 6.351.432 đồng, lãi quá hạn 3.175.717 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông K còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ vốn này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay quy định thì lãi suất mà ông K phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần S theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Về án phí dân sự có giá ngạch:

- Ngân hàng thương mại cổ phần S không phải chịu án phí. Ngày 03/12/2021 Ngân hàng thương mại cổ phần S có dự nộp 539.000 đồng theo biên lai số 0000706 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được nhận lại khi bản án có hiệu lực pháp luật.

- Ông Võ Văn K phải chịu án phí là 1.226.000 đồng (chưa nộp).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ