vanban.org

Bản án 50/2022/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu Th đối với ông Nguyễn Thanh H và bà Hồ Thị Diễm E về “Hợp đồng mua bán tài sản”.

Buộc ông Nguyễn Thanh H và bà Hồ Thị Diễm E phải trả cho ông Nguyễn Hữu Th số tiền mua bán vật tư nông nghiệp và lãi là 122.173.000đ (một trăm hai mươi hai triệu một trăm bảy mươi ba ngàn đồng) (trong đó vốn mua bán là 110.000.000đ, lãi chậm trả là 12.173.000đ) Án phí dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Than… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Anh Nguyễn Hữu Th tranh chấp “Hợp đồng mua bán tài sản” với Ông Nguyễn Thanh H"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu Th đối với ông Nguyễn Thanh H và bà Hồ Thị Diễm E về “Hợp đồng mua bán tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 50/2022/DS- ST
Ngày: 23 - 3 - 2022
V/v tranh chấp “Hợp đồng
mua bán tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Chiến

Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Sức

2. Bà Nguyễn Thị Kim Chi

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mai Thy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoài – Kiểm sát viên sơ cấp

Trong ngày 23 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 33/2021/TLST - DS ngày 16 tháng 3 năm 2021, về tranh chấp dân “Hợp đồng mua bán tài sản”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2022/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 02 năm 2022 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hữu Th, sinh năm 1982, địa chỉ: tổ 9, ấp Phú Mỹ H, xã Phú Th, huyện Phú T, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1990 và bà Hồ Thị Diễm E, sinh năm 1992, cùng ngụ: tổ 03, ấp Phú Th, xã Phú X, huyện Phú T, tỉnh An Giang.

(anh Th có mặt, ông H và bà Diễm E vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Căn cứ đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải anh Nguyễn Hữu Th trình bày: anh là cơ sở bán vật tư nông nghiệp (Bình Yên), ông H và bà Diễm E có mua phân bón thuốc trừ sâu của cơ sở anh để canh tác lúa, nếp. Việc mua bán từ nhiều năm qua thoả thuận mua ghi sổ thiếu đến cuối vụ khi thu hoạch thanh toán, kéo dài nhiều năm có khi thì vợ chồng ông, bà có trả rồi thiếu lại gối đầu cho năm sau. Đến ngày 11/02/2021 anh và vợ chồng ông H và bà Diễm E có chốt sổ sách lại thì còn nợ anh số tiền mua bán là 110.000.000đ có làm biên nhận ngày 11/02/2021 do vợ chồng ký ghi họ tên, hứa sẽ bán đất trả nợ, anh có liên lạc, gặp vợ chồng họ yêu cầu trả nợ nhưng cho đến nay ông H và bà Diễm E vẫn không trả số tiền trên. Nay yêu cầu ông H và bà Diễm E cùng có trách nhiệm trả số tiền mua bán là 110.000.000đ và tiền lãi chậm trả từ ngày 11/02/2021 cho đến khi Toà án xét xử.

* Ông Nguyễn Thanh H và bà Hồ Thị Diễm E: vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý vụ án nên không có ý kền trình bày.

Ngoài ra, các bên không tranh chấp gì khác; không có ý kiến, yêu cầu nào khác.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên bị đơn được tống đạt các văn bản tố tụng và được triệu tập hợp lệ lần thứ 2 để nghe xét xử nhưng vẫn vắng mặt là chấp hành pháp luật chưa nghiêm, nên đề nghị hội đồng xét xử (HĐXX) xét xử vắng mặt những người này theo quy định tại Điều 227 Bộ Luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: qua ý kiến trình bày của các bên, căn cứ vào các tài liệu Tòa án thu thập, chứng cứ do nguyên đơn chung cấp, thể hiện ông Hùng bà Diễm Em có mua vật tư nông nghiệp của anh Thành, thể hiện tại biên nhận ngày 11/02/2021, Tòa án đã tống đạt, niêm yết thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng khác cho ông Hùng bà Diễm Em, nhưng ông, bà không đến để dự nghe công khai chứng cứ, hòa giải và xác định nợ với anh Thành coi như ông, bà từ quyền lợi của mình, nên yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ đề nghị HĐXX chấp nhận.

Đồng thời buộc đương sự chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Thanh H và bà Hồ Thị Diễm E đã được tống đạt các văn bản tố tụng và được triệu tập 2 lần để nghe xét xử, nhưng vẫn vắng mặt do đó hội đồng xét xử (HĐXX) xét xử vắng mặt các ông, bà để đảm bảo quyền lợi cho các bên theo Điều 227 Bộ Luật tố tụng dân sự,

Về thẩm quyền giải quyết vụ án: bị đơn cư trú xã Phú Xuân, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, nên nguyên đơn khởi kiện là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án huyện Phú Tân theo khoản 3 Điều 26 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự.

. Về quan hệ tranh chấp nguyên khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền mua bán vật tư nông nghiệp nên quan hệ tranh chấp là hợp đồng mua bán tài sản được quy định tại Điều 430 Bộ Luật dân sự.

Về nội dung: Khi khởi kiện anh Th cung cấp chứng cứ là biên nhận do ông Nguyễn Thanh H và bà Hồ Thị Diễm E ký tên lăn tay ngày 11/02/2021, Tòa án đã tống đạt, niêm yết thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng khác cho ông H bà Diễm E, nhưng ông, bà không đến để dự nghe công khai chứng cứ, hòa giải và xác định nợ với anh Th coi như ông, bà từ quyền lợi của mình, nên yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ được chấp nhận.

Về phương thức thanh toán tiền, sau khi nhận đủ số lượng vật tư để sản xuất nông nghiệp, đến hạn bên mua không trả đủ tiền nên nguyên đơn khởi kiện là phù hợp với Điều 440 Bộ luật dân sự.

Ngoài yêu cầu trả tiền vốn mua bán anh Th còn yêu cầu trả lãi chậm trả từ ngày làm biên nhận là 11/02/2021 cho đến nay là phù hợp với khoản 2 Điều 468 Bộ Luật dân sự nên được chấp nhận, số tiền lãi được tính như sau: tiền mua bán 110.000.000đ X 0,83% (10%/năm) X 13 tháng 10 ngày (11/02/2021 đến 23/3/2022) = 12.173.000đ

Như vậy tiền mua bán và lãi ông H bà Diễm E phải trả cho anh Th là 122.1730.000đ (trong đó vốn mua bán là 110.000.000đ, lãi chậm trả là 12.173.000đ)

Về án phí: ông Nguyễn Thanh H và bà Hồ Thị Diễm E phải trả cho anh Thành tiền mua bán vật tư nông nghiệp và lãi chậm trả nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 430, Điều 440 và khoản 2 Điều 468 Bộ Luật dân sự

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự 2015;

Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự;

Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Hữu Th đối với ông Nguyễn Thanh H và bà Hồ Thị Diễm E về “Hợp đồng mua bán tài sản”.

- Buộc ông Nguyễn Thanh H và bà Hồ Thị Diễm E phải trả cho ông Nguyễn Hữu Th số tiền mua bán vật tư nông nghiệp và lãi là 122.173.000đ (một trăm hai mươi hai triệu một trăm bảy mươi ba ngàn đồng) (trong đó vốn mua bán là 110.000.000đ, lãi chậm trả là 12.173.000đ)

- Án phí dân sự sơ thẩm: ông Nguyễn Thanh H và bà Hồ Thị Diễm E phải chịu 6.108.000 đồng, ông Nguyễn Hữu Th không phải chịu án phí. Hoàn trả cho ông Nguyễn Hữu Th 2.750.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001930 ngày 16/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân.

- Kể từ ngày ông Nguyễn Hữu Th có đơn yêu cầu thi hành án, mà ông Nguyễn Thanh Hùng và bà Hồ Thị Diễm E không thi hành dứt điểm số tiền trên, thì còn phải trả thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ông Hùng bà Diễm Em được quyền kháng cáo kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ