- Tranh chấp gì? án dân sự — "Nguyên - Bẩy"
- Tòa quyết gì? Căn cứ vào Điề u 162, Điề u 281, Điề u 427, Điề u 428, khoản 2 Điề u 438 và khoản 2 Điề u 305 của Bộ luật dân sự 2005; Điề u 357, Điề u 429, Điề u 468, Điề u 688 của Bộ luậ t dân sự 2015;
- Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2022/DS-ST Ngày 19-9-2022 V/v: “Tranh chấp Hợp đồng mua bán tài sản”. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thiêm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Quố c Đạ t
Ông Lê Văn La
Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Vi Đứ c Thứ - Kiểm sát viên.
Ngày 19/9/2022 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2022/TLST-DS ngày 23/5/2022 về việc: “Tranh chấp Hợp đồng mua bán tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 144/2022/QĐXXST-DS ngày 15/8/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 43/2022/QĐST-DS ngày 06/9/2022 giữa các đương sự:
* N đơn: Ông Nguyễ n Văn N, sinh năm 1962 - Vắ ng mặ t
Địa chỉ: Thôn Trong, xã Tiên Lục, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
* Bị đơn: Ông Trương Văn B, sinh năm 1960 - Vắ ng mặ t
Đị a chi:̉ Thôn Bã i Cả Đồ ng Kim, xã Tiên Lục, huyệ n Lạ ng Giang, tỉnh Bắc Giang.
* Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Trầ n Thị NH, sinh năm 1963. Đị a chỉ : Thôn Trong, xã Tiên Lục, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang - Vắ ng mặ t.
(Bà Trầ n ThịNH uỷ quyền cho ông Nguyễn VănN tham gia tố tụ ng)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và quá trình làm việc tại Toà án , ông Nguyễ n Văn N là N đơn trình bày:
Vợ chồ ng ông mở cử a hà ng kinh doanh cá m thứ c ăn c hăn nuôi. Trong khoảng thời gian từ những năm 2014, vợ chồ ng ông có bá n cá m thứ c ăn chăn nuôi cho ông Trương Văn B ở thôn Bãi Cả Đồng Kim, xã Tiên Lục, huyệ n Lạ ng Giang, tỉnh Bắc Giang. Quá trình mua bán ông B nợ tiề n chưa th anh toá n hế t . Ngày 01/01/2015, ông B và ông chố t nợ , sau khi chố t nợ ông B còn nợ lại 56.290.000đ (Năm mươi sá u triệ u hai trăm chí n mươi nghì n đồ ng). Khi chố t nợ , ông B chưa có tiề n thanh toá n nên ông B và tôi thoả thuận tính lãi suất chậm trả là 0,8%/tháng. Từ ngày chốt nợ đến hế t năm 2021, ông B thanh toá n cho ông đượ c 29.610.000đ tiề n nợ gố c (Tháng 6 năm 2015 trả 4.000.000đ; ngày 27/5/2018 đố i trừ tiề n ông mua vả i khô
của ông B 15.610.000đ; ngày 07/12/2021 trả 10.000.000đ), số tiề n gố c cò n lạ i và số tiề n lã i theo thoả thuậ n 0,8%/tháng ông B chưa thanh toá n.
Kể từ 08/12/2021, ông đã nhiề u lầ n yêu cầ u ông B phải thanh toán số tiề n còn nợ nhưng đến nay ông B vẫ n chưa thanh toá n số tiề n cò n nợ . Tại đơn sửa đổ i bổ sung đơn khở i kiệ n ngà y
10/5/2022 ông yêu cầ u số tiề n nợ gố c là 27.290.000đ tuy nhiên sau khi xem xé t lại sổ sá ch để đố i trừ cá c khoả n thì phí a ông B nợ lạ i số tiề n gố c chưa thanh toá n là 26.680.000đ. Nay ông yêu cầ u ông B trả cho ông số tiền nợ gốc còn lại là 26.680.000đ và tiề n lã i theo mứ c lã i suấ t thoả thuận 0,8%/tháng tính từ ngày
01/01/2015 đến ngày 19/9/2022 là 31.002.000đ (ông không yêu cầ u tiề n lã i củ a thá ng 6/2015, tiề n lã i củ a cá c ngà y 28, 29, 30 và 31 tháng 5/2015 và tiền lãi của tháng 12/2021 vì khi thanh toán lẻ ngày và không nhớ ngày trong tháng nên ông không yêu cầu tiền lãi của những ngày nà y).
Việ c mua bá n cá m thứ c ăn chăn nuôi giữ a ông và ông B vợ ông là bà Trầ n Thị NH có biết và đã uỷ quyền cho ông giải quyết vụ án này tại Toà án . Đối với vợ củ a ông Trương Văn B thì không biết và không liên q uan đế n việ c mua bá n . Vì vậy, ông không yêu cầ u vợ ông Trương Văn B phải liên đới cùng ông B trả số tiề n cò n nợ nêu trên.
Quá trình làm việc tại Toà án, ông Trương Văn B trình bày như sau: Ông và ông N ở cùng xã , nhà ông có chăn nuôi lợn , nhà ông N làm đại lý bán cám thứ c ăn chăn nuôi nên ông có mua cá m thứ c ăn chăn nuôi củ a ông N. Khi mua hàng thì hai bên chỉ thoả thuận miệng , ngày 01/01/2015 hai bên chố t nợ , ông còn nợ ông N 56.290.000đ, hai bên thoả thuậ n cho ông trả dầ n và tí nh lã i suấ t 0,8%/tháng. Sau đó ông đã trả cho ông N đượ c 29.610.000đ (tháng 6 năm 2015 trả 4.000.000đ; 27/5/2018 ông N mua vả i khô nhà ông hế t 15.610.000đ hai bên đố i trừ s ố tiền này vào tiền ông nợ nhà ông
N, ngày 07/12/2021 trả 10.000.000đ). Nay ông xá c nhậ n ông cò n nợ ông N 26.680.000đ tiề n nợ gố c và ông chưa thanh toá n tiề n lã i cho ông N lầ n nà o. Kể từ sau ngày thanh toán cuối cùng (ngày 07/12/2021) ông N có yêu cầu ông trả tiền nhưng ông xin khất đến tháng 6/2022 vì ông làm ăn thua lỗ nhưng ông N không cho khấ t và khở i kiệ n ông ra Toà á n. Nay ông chưa có tiề n để thanh toá n cho ông N, khi nà o có tiền thì ông trả dầ n , ông đề nghị Toà á n giả i quyế t theo quy đị nh phá p luậ t . Việ c mua bán cám chăn nuôi là do một mình ông đứng ra, không liên quan đế n vợ ông. Do bậ n công việ c nên ông xin vắ ng mặ t toà n bộ trong quá trì nh giải quyết vụ án.
* Ngườ i có quyề n lợ i nghĩ a vụ liên quan là bà Trầ n Thị NH trình bày: Bà là vợ của ông N, gia đì nh bà có kinh doanh bá n cá m thứ c ăn chăn nuôi, Ông N là ngườ i trự c tiế p tham gia bá n , chố t công nợ , nhậ n tiề n thanh toá n từ ông B. Bà nhấ t trí vớ i yêu cầ u khở i kiệ n củ a ông N, bà xin vắng mặt trong quá trình giải quyế t vụ á n và uỷ quyề n cho ông N tham gia giả i quyế t vụ á n này thay cho bà.
Tại phiên toà hôm nay, N đơn ông Nguyễ n Văn N (ông N đạ i diệ n theo uỷ quyề n cho bà NH) vắ ng mặ t và có đơn xin vắ ng mặ t , tại đơn xin vắng mặt ông N trình bày ông xin giữ N yêu cầ u khở i kiệ n về việ c yêu cầ u Toà á n buộ c ôn g B trả cho ông số tiền nợ gốc là 26.680.000đ và tiề n lã i theo mứ c lã i suấ t thoả thuậ n 0,8%/tháng từ ngà y 01/01/2015 tính đến ngày 19/9/2022 là 31.002.000đ (ông không yêu cầ u tiề n lã i củ a thá ng 6/2015, tiề n lã i củ a cá c ngà y 28,29,30 và 31 tháng 5/2015 và tiền lãi của tháng 12/2021 vì khi thanh toán lẻ ngày và không nhớ ngà y trong thá ng nên ông không yêu cầ u tiề n lã i củ a nhữ ng ngà y nà y).
Bị đơn ông Trương Văn B vắ ng mặ t (có đơn xin vắng mặt).
Đại diện VKSND huyện Lạng Giang phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Việ c tuân theo phá p luậ t củ a Thẩ m phá n , Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử tại phiên toà đã chấp hành đúng quy đị nh củ a Bộ luậ t tố t ụng dân sự . Việ c chấ p hà nh phá p luậ t củ a N đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đú ng quy đị nh củ a phá p luậ t.
- Về nội dung vụ án: Chấ p nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn N. Buộ c ông Trương Văn B thanh toá n trả cho ông Nguyễ n Văn N số tiề n gố c còn nợ là 26.680.000đ và tiề n lã i suấ t chậ m trả theo thoả thuậ n 0,8%/tháng từ ngày 01/01/2015 đến ngày xé t xử sơ thẩ m 19/9/2022 theo yêu cầ u củ a ông N là 31.002.000đ.
- Về án phí: Ông Trương Văn B là người cao tuổi nên được miễn án phí , hoàn trả tạm ứng án phí cho ông Nguyễ n Văn N và đề nghị Toà án tuyên quyền kháng cáo theo quy đị nh cho cá c đương sự .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay ông Nguyễ n Văn N là N đơn và là ngườ i đạ i diệ n theo uỷ quyề n củ a bà Trầ n Thị NH, ông Trương Văn B là bị đơn đều vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt tấ t cả cá c đương sự .
[2]. Về thẩ m quyề n giả i quyế t vụ á n: Quan hệ mua bá n cá m thứ c ăn chăn nuôi giữ a ông N và ông B là quan hệ dân sự giữa cá nhân với cá nhân , các bên không giả i quyế t đượ c cá c tranh chấ p phá t sinh, nên ông N đã là m đơn khở i kiệ n theo thủ tụ c tạ i Toà á n . Bị đơn ông Trương Văn B cư trú tạ i thôn Bã i Cả Đồ ng Kim, xã Tiên Lục , huyệ n Lạ ng Giang , tỉnh Bắc Giang. Toà án nhân dân huyện Lạng Giang giải quyết là phù hợp với quy định pháp luật và thẩm quyền được quy đị nh tạ i cá c Điề u 26, 35 và 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về quan hệ phá p luậ t tranh chấ p : Trong thờ i gian năm 2014 đến 2015, giữ a ông N và ông B có thực hiện việc mua bán cá m thứ c ăn chăn nuôi vớ i nhau. Việ c mua bá n thanh toá n giữ a hai bên tiế n hà nh nhiề u lầ n đề u đượ c ghi và o sổ theo dõ i củ a ông N. Tính đến ngày 01/01/2015 hai bên chố t sổ , ông B còn nợ ông N số tiề n gố c là 56.290.000đ, đến ngày 07/12/2021 ông B đã thanh toán trả cho ông N 29.610.000đ. Mặ c dù ông N đã yêu cầ u nhiề u lầ n nhưng ông B chưa thanh toá n trả hế t số nợ gố c cò n lạ i và tiề n lã i phá t sinh theo thoả thuậ n giữ a hai bên. Hộ i đồ ng xé t xử xá c đị nh đây là “tranh chấ p về hợ p đồ ng mua bá n tài sản” theo quy định tại Điều 428 của Bộ luật dân sự 2005.
[4]. Về quyề n khở i kiệ n, thờ i hiệ u khở i kiệ n:
Ngày 01/01/2015, các đương sự chốt công nợ , đến ngày 07/12/2021 ông Trương Văn B đã trả cho ông N tổ ng số tiề n 29.610.000đ. Căn cứ điể m b khoả n 1 Điề u 162 Bộ luậ t dân sự năm 2005 thì thời hiệu khởi kiện bắt đ ầu tính lại từ ngày 08/12/2021.
Ngày 11/4/2022, ông Nguyễ n Văn N có đơn khởi kiện đến Toà án nhân dân huyệ n Lạ ng Giang. Căn cứ điể m d khoản 1 Điề u 688, Điề u 429 Bộ luậ t dân sự năm 2015, ông N khở i kiệ n tranh chấ p hợ p đồ ng mua bá n tà i sả n là phù hợ p pháp luật.
Do ông N đã nhiề u lầ n yêu cầ u ông B thanh toá n số tiề n mua bá n cò n nợ nhưng ông B không trả . Vậ y HĐXX xá c đị nh ông N có quyền khởi kiện và thời hiệ n khở i kiệ n vẫ n cò n theo quy đị nh tạ i Điề u 184, Điề u 186 Bộ luậ t tố tụ ng dân sự năm 2015; Điề u 427 Bộ luậ t dân sự năm 2005; Điề u 429 Bộ luậ t dân sự năm 2015.
[5].Về nội dung tranh chấ p:
- Xét yêu cầu khởi kiện của N đơn thì thấ y:
+ Về số tiề n nợ gố c: Căn cứ và o sổ theo dõ i củ a ông N cung cấ p, lờ i khai của các đương sự có trong hồ sơ vụ án đã xác định : Trong khoả ng thờ i gian từ năm 2014 đến năm 2015 giữ a ông N và ông B có thực hiện việc mua bán cám thứ c ăn chăn nuôi vớ i nhau . Việ c mua bá n , thanh toá n giữ a cá c bên đượ c ghi chép vào sổ theo dõi của ông N. Ngày 01/01/2015 (ngày hai bên chốt nợ), ông B còn nợ ông N số tiề n gố c là 56.290.000đ. Tính đến ngày 07/12/2021, ông B đã thanh toá n trả cho ông N tổ ng số tiề n 29.610.000đ (tiề n nợ gố c). Như vậ y, giữ a ông N và ông B đã thiế t lậ p quan hệ hợ p đồ ng mua bá n tà i sả n theo quy đị nh tạ i Điề u 428 Bộ luậ t dân sự 2005 vớ i số tiề n gố c cò n nợ là 26.680.000đ. Vì vậy, việ c ông N yêu cầ u ông B phải thanh toán trả cho ông N số tiề n gố c cò n nợ 26.680.000đ là có căn cứ được chấp nhận.
+ Về tiề n lã i suấ t : Ông Nguyễ n Văn N yêu cầ u ông B phải trả tiền lãi theo thoả thuậ n củ a cá c bên là 0,8%/tháng kể từ ngà y 01/01/2015 tính đến ngày 19/9/2022 là 31.002.000đ (ông N không yêu cầ u tiề n lã i củ a thá ng 6/2015, tiề n lãi của các ngày 28,29,30 và 31 tháng 5/2015 và tiền lãi của tháng 12/2021 vì khi thanh toá n lẻ ngà y và không nhớ ngà y trong thá ng nên ông không yêu cầ u tiề n lã i củ a nhữ ng ngà y nà y), Hộ i đồ ng xé t xử xé t thấ y:
Ngày 01/01/2015, ông N và ông B chố t nợ , ông B có ký nhận nợ số tiề n 56.290.000đ, hai bên thoả thuậ n ông B trả lãi (lãi suất chậm trả ) vớ i mứ c 0,8%/tháng đối với số tiền trên kể từ ngày chốt nợ . Việ c thoả thuậ n nà y là tự nguyệ n, mứ c lã i suấ t thoả thuậ n phù hợp với quy đị nh củ a phá p luậ t. Do đó yêu cầ u tí nh lã i củ a ôn g N phù hợp với khoản 2 Điề u 305 và khoản 2 Điề u 438 của Bộ luậ t dân sự năm 2005 nên đượ c chấ p nhậ n nên HĐXX buộ c ông B phải chịu lãi suất chậm trả theo lãi suất thoả t huậ n củ a cá c bên vớ i mứ c lã i 0,8%/tháng, cụ thể như sau:
- Từ ngà y 01/01/2015 đến 01/6/2015 đố i vớ i số tiề n gố c 56.290.000đ (05 tháng) = [(56.290.000đ x 0,8%) x 5] = 2.251.600đ;
- Từ ngà y 01/07/2015 đến 27/5/2018 đố i vớ i số tiề n gố c 52.290.000đ (34 tháng 26 ngày) =[(52.290.000đ x 0,8%) x 34] + [(52.290.000đ x 0,027%) x 26] = 14.222.880đ + 366.500đ =14.589.300đ (không tí nh lã i thá ng 6/2015 do ông N không yêu cầ u).
- Từ ngà y 01/6/2018 đến ngày 01/12/2021 của số t iề n gố c 36.680.000đ (42 tháng) = [(36.680.000đ x 0,8%) x 42] = 12.324.000đ (không tí nh lã i cá c ngày 28, 29, 30, 31 tháng 5/2018 do ông N không yêu cầ u);
- Từ ngà y 01/01/2022 đến ngày 19/9/2022 (ngày xét xử sơ thẩm ) của số tiề n gố c 26.680.000đ (08 tháng 18 ngày) là = [(26.680.000đ x 0,8%) x 08] + [(26.680.000đ x 0,027%) x 18] =1.707.500đ + 129.600đ = 1.837.100đ (không tính lãi tháng 12 năm 2021 do ông N không yêu cầ u);
Tổ ng số tiề n lã i tí nh đế n hế t ngà y 19/9/2022 (ngày xét xử sơ thẩm ) là 31.002.000đ.
Tổng số tiền nợ gốc và lãi mà ông Trương Văn B phải trả cho ông Nguyễ n Văn N là: 26.680.000đ + 31.002.000đ = 57.682.000đ (Năm mươi B triệ u sá u trăm tá m mươi hai nghì n đồ ng).
[6]. Về án phí: Căn cứ điể m đ khoản 1 Điề u 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do ông Trương Văn B là người cao tuổi nên miễn á n phí dân sự sơ thẩ m cho ông B. Ông Nguyễ n Văn N không phả i chị u á n phí dân sự sơ thẩ m. Hoàn trả ông Nguyễ n Văn N 1.450.000đ tiền tạm ứng án phí do đã nộp thay theo biên lai thu số 0012885 ngày 20/5/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
[7]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điề u 162, Điề u 281, Điề u 427, Điề u 428, khoản 2 Điề u 438 và khoản 2 Điề u 305 của Bộ luật dân sự 2005; Điề u 357, Điề u 429, Điề u 468, Điề u 688 của Bộ luậ t dân sự 2015;
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điề u 184, Điề u 186, Điều 227, Điều 228, Điề u 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử :
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễ n Văn N.
2. Buộc ông Trương Văn B phải thanh toá n trả cho ông Nguyễ n Văn N số tiền gốc là 26.680.000đ và tiền lãi chậm trả tính đến hết ngày
19/9/2022 là 31.002.000đ. Tổ ng cộ ng là : 57.682.000đ (Năm mươi B triệ u sá u trăm tá m mươi hai nghì n đồ ng).
3. Về án phí: Miễ n á n phí dân sự sơ thẩ m cho ông Trương Văn B.
Hoàn trả ông Nguyễ n Văn N 1.450.000đ (Mộ t triệ u bố n trăm năm mươi nghìn đồng ) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0012885 ngày 20/5/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
4. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy đị nh phá p luậ t.
6. Về hướng dẫn thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự: thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Lạng Giang; - Chi cục THA tỉnh Bắc Giang; - Các đương sự; - Lưu HS. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Vũ Thị Thiêm |