- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đặng Văn T phạm tội " Hủy hoại tài sản". - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? * Căn cứ vào: Điểm b, d khoản 2 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 178 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2021/HS-ST Ngày: 19/3/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Quỳnh.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Sơn Hải và bà Hoàng Thị Oanh.
- Thưkýphiêntoà: ÔngVũ Đức Thảo - Thư ký Toà ánnhândânhuyện Sơn Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 19/3/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2021/TLST-HS, ngày 07 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2021/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 3 năm 2021 đối với bị cáo:
Đặng Văn T; sinh ngày 02/01/1985 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang.
Nơi cư trú: Thôn L, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; bố đẻ: Đặng Văn T1, đã chết; mẹ đẻ; Nguyễn Thị N, sinh năm 1944; vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1983 (đã ly hôn); con: có 01 con sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/12/2020 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
* Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Văn K – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Tuyên Quang. Có mặt
- Người bị hại:
1. Điện lực huyện S; người đại diện được ủy quyền: ông Nguyễn Vĩnh B, c/v: Trưởng phòng KH-KT-AT. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Trung tâm Viễn thông X; người đại diện được ủy quyền: ông Lê Thanh U, c/v: Tổ trưởng tổ hạ tầng. Có mặt
- Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Q, sinh năm 1986; trú tại: Thôn Đ, xã P, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 10/2020 đến ngày 11/11/2020, Đặng Văn T đã nhiều lần dùng lửa đốt vào tủ trọn bộ sơn tĩnh điện (tủ phân phối) Trạm biến áp UBND xã P của Điện lực S và hộp cáp quang của Trung tâm Viễn thông X thuộc Viễn thông Tuyên Quang, cụ thể như sau:
Lần 1: Khoảng 23 giờ 00 ngày 31/10/2020, T cầm 01 chai nhựa, bên trong chứa khoảng 0,5 lít xăng (mua từ trước) và 01 bật lửa ga, đi xe đạp từ nhà đến khu vực cột điện gần Nhà văn hóa thôn Đ, xã P. T quan sát không có ai nên đổ xăng vào hộp cáp của Trung tâm Viễn thông X, châm lửa đốt cho cháy rồi đi về nhà. Gây thiệt hại: 180m cáp quang 24Fo, 02 cái măng xông 24Fo của Trung tâm Viễn thông X; trị giá tài sản bị thiệt hại là 3.198.675 đồng.
Lần 2: Khoảng 22 giờ 00 ngày 04/11/2020, T ở nhà thì nảy sinh ý định đốt Trạm biến áp điện UBND xã P tại thôn Đ, xã P nên dùng dao cắt 01 mảnh lõi chăn bông ở nhà (kích thước khoảng 30 x 40cm), cầm theo 01 bật lửa ga và 01 chai nhựa (loại 01 lít) bên trong chứa khoảng 01 lít xăng (mua từ trước). Khi đến Trạm biến áp điện UBND xã P, T đi vào cài mảnh lõi chăn vào đầu 01 cây sào nứa, đổ khoảng 0,5 lít xăng vào mảnh lõi chăn rồi châm lửa đốt và dùng cây sào nứa đưa mảnh chăn đang cháy lên phần sàn sắt phía dưới tủ trọn bộ sơn tĩnh điện (tủ phân phối) và dây dẫn điện tại Trạm biến áp UBND xã P rồi rút cây sào ra để cây sào, chai xăng dưới đất và đi về nhà. Gây thiệt hại gồm:
+ Tài sản của Điện lực S: 07m cáp CU PVC 3*120+1*95, 01 tủ trọn bộ sơn tĩnh điện 300A-450V-3 lộ ra, 10m cáp vặn xoắn XLPE 4*95, 10m cáp vặn xoắn XLPE 4*70, 20m cáp vặn xoắn XLPE 4*50, 01 bộ ống chì IIK-35kV-5A, 04 đầu cốt AM 95, 04 đầu cốt AM 70, 08 đầu cốt AM 50. Trị giá tài sản bị thiệt hại là 7.827.934 đồng.
+ Tài sản của Trung tâm Viễn thông X: 120m cáp quang 12Fo, 02 cái măng xông 12Fo. Trị giá tài sản bị thiệt hại là 2.169.160 đồng.
Lần 3: Khoảng 23 giờ ngày 08/11/2020, T tiếp tục đi đến Trạm biến áp UBND xã P tại thôn Đ, xã P châm lửa đốt mảnh lõi chăn bông rồi dùng cây sào nứa (để đó từ trước) đưa phần lõi bông đang cháy lên khu vực sàn sắt phía dưới tủ trọn bộ sơn tĩnh điện (tủ phân phối) và dây dẫn điện tại Trạm biến áp cho cháy rồi đi về nhà. Gây thiệt hại: 07m cáp CU PVC 3*120+1*95, 01 tủ trọn bộ sơn tĩnh điện 400A-450V-3 lộ ra, 10m cáp vặn xoắn XLPE 4*95, 10m cáp vặn xoắn XLPE 4*70, 20m cáp vặn xoắn XLPE 4*50, 04 đầu cốt AM 95, 04 đầu cốt AM 70, 08 đầu cốt AM 50 của Điện lực S. Trị giá tài sản bị thiệt hại là 40.064.234 đồng.
Lần 4: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 11/11/2020, tại thôn Đ, xã P, huyện S, T tiếp tục đi xe đạp đến Trạm biến áp UBND xã P dùng bật lửa gas đốt cháy 01 mảnh lõi chăn bông rồi dùng 01 cây nứa có chiều dài 2m96, đường kính 06cm đưa phần lõi bông đang cháy lên khu vực sàn sắt phía dưới tủ trọn bộ sơn tĩnh điện (tủ phân phối) và dây dẫn điện tại Trạm biến áp rồi rút cây nứa ra để cho cháy và đi về nhà thì bị người dân phát hiện. Gây thiệt hại: 07m cáp CU PVC 3*120+1*95 của Điện lực S. Trị giá tài sản bị thiệt hại là 9.216.471 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 138 ngày 10/12/2020 của HĐ định giá tài sản trong TTHS huyện Sơn Dương: Tổng giá trị thiệt hại là 62.476.474 đồng (thiệt hại của Điện lực S là 57.108.639đ, thiệt hại của Trung tâm Viễn thông X là 5.367.835đ).
Ngoài ra, Trong tháng 10/2020 (không xác định được ngày), khoảng 20 giờ, T từ nhà cầm theo 01 chai nhựa (loại chai trà xanh) bên trong có khoảng 0,5 lít xăng mua từ trước và cầm theo 01 bật lửa ga, đi xe đạp đến vị trí cột điện thuộc thôn L, xã P. Khi đến cột điện, thấy có 01 hộp cáp màu trắng của Viettel S gắn trên cột, cách mặt đất khoảng 1,5m. T đổ xăng trong chai ra, bật lửa đốt rồi đi về nhà. Hậu quả, hộp cáp bị cháy bên ngoài nhưng không gây thiệt hại gì.
Tại Cáo trạng số 05/CT-VKSSD, ngày 06/01/2021 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Đặng Văn T về tội “Hủy hoại tài sản” theo điểm b, d khoản 2 Điều 178 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội danh. Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương rút quyết định áp dụng tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội tự thú quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đề nghị:
- Tuyên bố: Đặng Văn T phạm tội: “Hủy hoại tài sản”.
- Áp dụng: Điểm b, d khoản 2 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt Đặng Văn T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 15/12/2020
- Về dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo phải bồi thường cho Điện lực S số tiền 57.108.639 đồng, bồi thường cho Trung tâm Viễn thông X số tiền 5.367.835 đồng. Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường là 62.476.474 đồng.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa gas, màu trắng, chiều dài 7,5cm, rộng 2,5cm đã qua sử dụng; 01 mảnh chăn bông có chiều dài 1,8m, chiều rộng nhất 1,25m, đã cũ, bám dính nhiều tạp chất, bị mất một phần do bị cắt; 01 mảnh chăn bông có các cạnh nham nhở, có kích thước (55x30x04)cm; 01 đoạn cây nứa đã khô dài 296 cm, chu vi đầu to nhất 06cm.
Trả lại cho bị cáo 01 xe đạp loại xe mini, màu sơn trắng, nhãn hiệu VIET HUNG nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.
Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, dân sự có giá ngạch và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo: Bị cáo ra đầu thú được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải áp được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo thuộc hộ nghèo được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án khởi điểm của khung hình phạt.
Viện kiểm sát đối đáp quan điểm của luật sư: Về áp dụng tình tiết giảm nhẹ là bị cáo đầu thú được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, Viện kiểm sát không nhất trí vì hành vi phạm tội của bị cáo được phát hiện do có đơn tố giác chứ không phải do bị cáo tự nguyện trình báo. Về tình tiết giảm nhẹ là bị cáo thuộc hộ nghèo được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, Viện kiểm sát không nhất trí trí vì bị cáo là hộ nghèo đã được hưởng các chế độ, chính sách ưu đãi, quan tâm của xã hội theo quy định, đồng thời việc bị cáo là hộ nghèo không ảnh hưởng đến nhận thức và năng lực hành vi của bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, không có tình tiết mới. Bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận định giá tài sản, bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.
Kết thúc phần tranh luận, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo không có lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về việc xem xét hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản khám nghiệm, biên bản xác minh, bản ảnh hiện trường; bản kết luận định giá tài sản; lời khai người người bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ cuối tháng 10/2020 đến ngày 11/11/2020, Đặng Văn T đã 04 lần dùng lửa, xăng đốt vào tủ trọn bộ sơn tĩnh điện (tủ phân phối) Trạm biến áp UBND xã P và hộp cáp quang của Trung tâm Viễn thông X thuộc Viễn thông Tuyên Quang gây thiệt hại gồm:
- Tài sản của Trung tâm Viễn thông X: 180m cáp quang 24Fo, 02 cái măng xông 24Fo, 120m cáp quang 12Fo, 02 cái măng xông 12Fo; trị giá tài sản bị thiệt hại là 5.367.835 đồng
- Tài sản của Điện lực S: 07m cáp CU PVC 3*120+1*95, 01 tủ trọn bộ sơn tĩnh điện 300A-450V-3 lộ ra, 10m cáp vặn xoắn XLPE 4*95, 10m cáp vặn xoắn XLPE 4*70, 20m cáp vặn xoắn XLPE 4*50, 01 bộ ống chì IIK-35kV-5A, 04 đầu cốt AM 95, 04 đầu cốt AM 70, 08 đầu cốt AM 50, 07m cáp CU PVC 3*120+1*95, 01 tủ trọn bộ sơn tĩnh điện 400A-450V-3 lộ ra, 10m cáp vặn xoắn XLPE 4*95, 10m cáp vặn xoắn XLPE 4*70, 20m cáp vặn xoắn XLPE 4*50, 04 đầu cốt AM 95, 04 đầu cốt AM 70, 08 đầu cốt AM 50, 07m cáp CU PVC 3*120+1*95; trị giá tài sản bị thiệt hại là 57.108.639 đồng.
Tổng trị giá tài sản bị thiệt hại là 62.476.474 đồng (sáu mươi hai triệu bốn trăm bảy mươi sáu nghìn bốn trăm bảy mươi tư đồng).
Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố bị cáo về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 178 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo bị áp dụng tình tiết phạm tội 02 lần trở lên quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về mức án đối với bị cáo: Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm vào quyền sở hữu đối với tài sản của người khác, đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội và gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực pháp luật và nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần. Do vậy, cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về luận cứ bào chữa của người bào chữa:
Về áp dụng tình tiết bị cáo đầu thú quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Bị cáo không phải là người tự giác trình diện và khai báo hành vi phạm tội mà do có đơn tố giác bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và cơ quan điều tra thực hiện các biện pháp nghiệp vụ theo quy định của pháp luật (bắt tạm giam, thực hiện lấy lời khai và hỏi cung) thì bị cáo mới khai báo hành vi phạm tội của mình nên không được coi là người phạm tội đầu thú. Vì vậy, không áp dụng tình tiết người phạm tội đầu thú quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự theo đề nghị của người bào chữa.
Về áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự với trường hợp bị cáo là hộ nghèo: Việc bị cáo là hộ nghèo không ảnh hưởng đến năng lực hành vi và khả năng nhận thức pháp luật nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội do mình gây ra. Vì vậy, không áp dụng đề nghị trên của người bào chữa.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng có giá trị, nghề nghiệp lao động tự do không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự:
- Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và Trung tâm Viễn thông X, bị cáo có nghĩa vụ phải bồi thường cho Trung tâm Viễn thông X số tiền 5.367.835 đồng.
- Buộc bị cáo phải bồi thường cho Điện lực S số tiền 57.108.639 đồng.
Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho Trung tâm Viễn thông X và Điện lực S là 62.476.474 đồng (sáu mươi hai triệu bốn trăm bảy mươi sáu nghìn bốn trăm bảy mươi tư đồng).
Về vật chứng: Qúa trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sơn Dương thu giữ 01 bật lửa gas, màu trắng, chiều dài 7,5cm, rộng 2,5cm đã qua sử dụng; 01 mảnh chăn bông có chiều dài 1,8m, chiều rộng nhất 1,25m, đã cũ, bám dính nhiều tạp chất, bị mất một phần do bị cắt; 01 mảnh chăn bông có các cạnh nham nhở, có kích thước (55x30x04)cm; 01 đoạn cây nứa đã khô dài 296 cm, chu vi đầu to nhất 06cm là tang vật của vụ án, không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 xe đạp loại xe mini, màu sơn trắng, nhãn hiệu VIET HUNG là tài sản của bị cáo mua để phục vụ việc đi lại hàng ngày không nhằm mục đích phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.
Về việc xem xét tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Quá trình điều tra và truy tố, xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản pháp luật có liên quan. Khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ, truy tố đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.
Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.123.823 đồng án phí dân sự có giá ngạch.
Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
* Căn cứ vào: Điểm b, d khoản 2 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
* Tuyên bố: Bị cáo Đặng Văn T phạm tội " Hủy hoại tài sản".
*Xử phạt: Bị cáo Đặng Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 15/12/2020.
* Về trách nhiệm dân sự:
Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586, 589, 468 của Bộ luật dân sự:
- Ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và Trung tâm Viễn thông X, bị cáo có nghĩa vụ phải bồi thường cho Trung tâm Viễn thông X số tiền 5.367.835 đồng.
- Buộc bị cáo phải bồi thường cho Điện lực S số tiền 57.108.639 đồng.
Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho Trung tâm Viễn thông X và Điện lực S là 62.476.474 đồng (sáu mươi hai triệu bốn trăm bảy mươi sáu nghìn bốn trăm bảy mươi tư đồng).
Khoản tiền phải trả kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bị cáo chậm trả thì hàng tháng phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự
* Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa gas, màu trắng, chiều dài 7,5cm, rộng 2,5cm đã qua sử dụng; 01 mảnh chăn bông có chiều dài 1,8m, chiều rộng nhất 1,25m, đã cũ, bám dính nhiều tạp chất, bị mất một phần do bị cắt; 01 mảnh chăn bông có các cạnh nham nhở, có kích thước (55x30x04)cm; 01 đoạn cây nứa đã khô dài 296 cm, chu vi đầu to nhất 06cm.
- Trả lại cho bị cáo 01 xe đạp loại xe mini, màu sơn trắng, nhãn hiệu VIET HUNG nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa Công an huyện Sơn Dương và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương ngày 07/01/2021).
* Về án phí : Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016:
Bị cáo Đặng Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.123.823 đồng (ba triệu một trăm hai mươi ba nghìn tám trăm hai mươi ba đồng) án phí dân sự có giá ngạch.
* Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo, bị hại Trung tâm Viễn thông X được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại Điện lực S vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - Trại tạm giam công an tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Sơn Dương; - Công an huyện Sơn Dương; - Chi cục THADS huyện Sơn Dương; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Quỳnh |