- Tranh chấp gì? án hình sự — "V bị truy tố về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo V phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50 /2021/HS-ST Ngày: 16/12/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Quang Tiến
Bà Trương Việt Trinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Hoàng Long - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Khánh – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2021, Tòa án nhân dân huyện Ba Tri tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2021/TLST-HS ngày 26/10/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2021/QĐXXST-HS ngày 04/12/2021 đối với bị cáo:
V, sinh ngày 22/5/1985; Tên gọi khác: V Đầu Bự; Nơi sinh: tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Ấp A xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông N và bà Đ; Vợ: Th (Chết); Có 02 con: lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2011; Bị cáo có 02 chị em, lớn sinh năm 1983, nhỏ sinh năm 1987; Tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ từ ngày 23/8/2021, đến ngày 29/8/2021 được hủy bỏ biện pháp tạm giữ và bị cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng: H, sinh năm 1997;
Nơi cư trú: K 5, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt).
- Người chứng kiến:
1. Ông S, sinh năm 1955;
Nơi cư trú: K 2, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt).
2. Ông K, sinh năm 1959;
Nơi cư trú: K 5, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
V là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Vào tháng 5/2021, V lên Thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy của người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch giá 500.000 đồng đem về nhà để sử dụng dần. Đến khoảng 14 giờ 35 phút ngày 23/8/2021, V lấy túi ma túy giấu vào trong túi áo rồi đi bộ tìm T (Điếu) – sinh năm 1990 cư ngụ ấp N, xã M, huyện B đang ở trọ tại nhà trọ Sapôchê thuộc k 5, thị trấn B để trả tiền thua do đá gà ăn tiền trước đó. Khi đang đi bộ trên đường Phan Văn Trị thuộc k 5, thị trấn B, huyện B, V gặp lực lượng Công an huyện Ba Tri đang đi tìm mời V về trụ sở làm việc do V có liên quan trong vụ án Tàng trữ trái phép chất ma túy khác thì V liền ném bỏ túi nylon chứa chất ma túy xuống đất nhưng bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang.
Vật chứng thu giữ là: 01 túi nilon có kích thước 6,2cm x 04cm bên trong đựng 03 đoạn ống bằng nhựa màu trắng có sọc vàng nhạt có đặc điểm và kích thước giống nhau, mỗi ống có hai đầu được hàn kín kích thước 0,8cm x 03cm và 01 túi nilon màu trắng bốn mặt cạnh đều kín có kích thước 2,3cm x 02cm, bên trong 03 đoạn ống nhựa và túi nilon đều có chứa chất tinh thể màu trắng. Tất cả được niêm phong trong phong bì ký hiệu T01 (chưa xử lý).
Tại Bản kết luận giám định số 127/2021/GĐMT ngày 28/8/2021, Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre kết luận: Tinh thể màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu T01 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,6383 gam. Hoàn lại mẫu vật ký hiệu T01 sau giám định đã được niêm phong có khối lượng 0,5579 gam.
Tại Bản Cáo trạng số: 46/CT-VKSBT ngày 25/10/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri truy tố bị cáo V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố bị cáo V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Về trách nhiệm hình sự đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự đề nghị HĐXX: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định là 0,5579 gam Methamphetamine đựng trong phong bì số 127/2021 được niêm phong.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo V khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đã thực hiện. Bị cáo xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo hứa sẽ không sử dụng ma túy nữa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
Về tố tụng: Tại phiên tòa, người làm chứng, người chứng kiến ông S vắng mặt không có lý do. Tuy nhiên, những người này đã có lời khai thể hiện rõ trong quá trình điều tra, đồng thời bị cáo và những người tiến hành tố tụng khác không có ý kiến gì về việc vắng mặt của người này. Xét việc vằng mặt của người làm chứng và người chứng kiến S không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Căn cứ vào Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, HĐXX tiến hành xét xử vụ án vắng mặt những người nêu trên.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Tri, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, lời khai nhận của bị cáo V phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng những tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập trong quá trình điều tra vụ án. Đã đủ cơ sở xác định: Do nghiện ma túy, nên V đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,6383 gam Methamphetamine trong người để sử dụng thì bị Công an huyện Ba Tri phát hiện bắt quả tang vào lúc 14 giờ 35 phút ngày 23/8/2021 tại k5, thị trấn B, huyện B, tỉnh Bến Tre. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri đã truy tố bị cáo V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Khi thực hiện hành vi tàng trữ trái pháp chất ma túy, bị cáo là người đã trưởng thành và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo biết rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn bất chấp và cố ý thực hiện để sử dụng nhằm thỏa mãn cơn nghiện của mình. Vì vậy, bị cáo phải hoàn toàn chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi mà bị cáo đã gây ra. HĐXX xét thấy cần xử lý bị cáo bằng hình phạt tù giam để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo nhằm giúp bị cáo từ bỏ chất ma túy để trở thành người tốt, có ích cho xã hội, đồng thời cũng để răn đe, phòng ngừa chung trước thực trạng tệ nạn ma túy đang ngày càng gia tăng và diễn biến phức tạp trên địa bàn huyện nhà.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, đề nghị về áp dụng tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo của đại diện Viện kiểm sát có cơ sở nên được HĐXX chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Đối với số ma túy còn lại sau giám định 0,5579 gam Methamphetamine là vật chứng bị cáo thực hiện hành vi phạm tội và là hàng cấm nên sẽ bị tịch thu tiêu hủy theo quy định pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với hành vi của bị cáo cùng với L đá gà ăn tiền vào ngày 23/8/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Tri tách ra để làm rõ và xử lý sau là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo V phạm “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo V 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Trừ vào thời gian 06 (Sáu) ngày bị tạm giữ trước đó, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù còn lại là 01 (Một) năm 05 (Năm) tháng 24 (Hai mươi bốn) ngày.
Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành hình phạt tù.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 0,5579 gam Methamphetamine đựng trong phong bì số 127/2021 được niêm phong. Theo phiếu nhập kho số NKTV39 ngày 29/10/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri.
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14;
Buộc bị cáo V phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. * Nơi nhận:
| - Bị cáo; - VKSND huyện Ba Tri; - Cơ quan THAHS & HTTP CA huyện Ba Tri; - Cơ quan CSĐT CA huyện Ba Tri; - TAND tỉnh Bến Tre; - VKSND tỉnh Bến Tre; - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre; - Chi cục THADS huyện Ba Tri; - UBND xã A; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thanh Tùng |