- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đỗ Văn H - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn H; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2021/HS-ST ngày 29/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước về phần hình phạt và án phí đối với bị cáo Đỗ Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2021/HS-PT Ngày: 17-9-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Lê Quang Ninh
Các Thẩm phán:
Bà Phạm Thị Bích Thủy
Bà Lê Hồng Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hậu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Chuyên - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 73/2021/TLPT-HS ngày 16/8/2021 đối với bị cáo Đỗ Văn H. Do có kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn H đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2021/HS-ST ngày 29/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước.
Bị cáo có kháng cáo:
Đỗ Văn H, sinh năm 1957, tại Bình Phước; Nơi cư trú: Ấp P, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Sửa xe; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ H và bà Nguyễn Thị T (đều đã chết); Bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Ngọc H; Có 03 con, lớn nhất sinh năm 1984, nhỏ nhất sinh năm 1990; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo được tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Anh Lê Thế C có mua một thửa đất tại tổ 1, ấp P, xã T, huyện H liền kề với nhà bị cáo Đỗ Văn H. Khi mua đất thì đã thấy có nhiều rác trên đất, C nghĩ là do gia đình bị cáo xả rác nên đã nhiều lần yêu cầu bị cáo dọn và hai bên xảy ra mâu thuẫn.
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 19/11/2020, anh C chở theo anh Kiều T (bạn của anh C) đến xem đất. Thấy bị cáo chưa dọn rác nên anh C gọi bị cáo qua khu vực đất của mình và nói: “Ông H, sao không dọn dẹp”. Khi nghe anh C gọi, bị cáo đứng dậy, cầm theo 01 con dao (dạng dao bầu) ở khu vực đồ nghề vá vỏ (thường dùng cắt ruột xe), rồi đi ra nói chuyện với anh C. Lúc này, anh C nói với bị cáo: “Sao tôi kêu ông dọn rác mà ông không dọn”, thì bị cáo nói là bị cáo không đổ rác nên không dọn. Nghe bị cáo nói vậy thì anh C tức giận và chửi bị cáo. Sau khi bị anh C chửi, bị cáo đã dùng dao đâm về phía C 01 cái trúng vào cánh tay phải của anh C. Bị đâm bất ngờ, anh C vung cánh tay phải lên, xoay người định bỏ chạy thì bị cáo tiếp tục đâm 01 cái trúng vào phần nách phải của anh C gây thương tích rồi bị cáo cầm dao bỏ chạy vào nhà. Anh C bị ngã xuống đất rồi dứng dậy chạy sang quán tạp hóa của bà Nguyễn Thị Thiện T lấy 03 con dao chạy qua nhà bị cáo, ném về hướng nhà bị cáo nhưng không trúng ai. Lúc này, bị cáo cầm 01 con dao rựa từ trong nhà đi ra và ném về phía anh C nhưng không trúng rồi bị cáo bỏ chạy ra phía sau nhà.
Anh C được anh Kiều T chở đi cấp cứu tại Trung tâm y tế thị xã B, sau đó được chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh D để điều trị. Đến ngày 26/11/2020, thì anh C được xuất viện về nhà.
Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Đỗ Văn H đã đến Công an xã T đầu thú và khai báo toàn bộ sự việc.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 363/2020/TgT ngày 25/12/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Phước kết luận:
+ Vết thương thấu phổi phải, thủng nhu mô phổi, tràn dịch màng phổi đã phẫu thuật dẫn lưu màng phổi.
+ Sẹo đường nách sau ngực phải 6,5 x 0,6cm lồi, gọn.
+ Sẹo chân ống dẫn lưu đường nách trước ngực phải kích thước 2 x 0,2cm gọn, mềm.
+ Sẹo cánh tay phải: Chéo 1/3 giữa – sau kích thước 11 x 0,4cm gọn, mềm; 1/3 trên – sau – trong kích thước 4 x 0,4cm gọn, mềm.
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 13% (Mười ba phần trăm).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2021/HS-ST ngày 29/6/2021, Tòa án nhân dân huyện Hớn Q, tỉnh Bình Phước đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 06/7/2021, bị cáo Đỗ Văn H có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không áp dụng tình tiết định khung “Có tính chất côn đồ” đối với bị cáo và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Đỗ Văn H vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
- Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; không chấp nhận kháng cáo về việc cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết định khung hình phạt “có tính chất côn đồ” và yêu cầu giảm nhẹ hình phạt của bị cáo H, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2021/HS-ST ngày 29/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Đơn kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn H được thực hiện trong thời hạn luật định, có nội dung, hình thức phù hợp với quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự nên đủ điều kiện để Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xem xét, giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Văn H thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như bản án sơ thẩm đã nhận định. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn H, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Chỉ vì bị hại cho rằng bị cáo đã đổ rác trên thửa đất của bị hại và yêu cầu bị cáo phải dọn dẹp nên giữa bị cáo với bị hại đã xảy ra mâu thuẫn, cãi vã nhau. Tuy nhiên, bị cáo đã không lựa chọn cách cư xử phù hợp mà lại dùng con dao bầu, sắc nhọn là hung khí nguy hiểm bất ngờ đâm bị hại 01 nhát trúng vào cánh tay phải, khi bị hại xoay người định bỏ chạy thì bị cáo tiếp tục dùng dao đâm bị hại 01 nhát trúng vào vùng nách phải, gây thương tích cho bị hại 13%. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện tính chất côn đồ, hung hãn, sẵn sàng dùng hung khí nguy hiểm để giải quyết mâu thuẫn nhỏ nhặt.
Vì vậy, việc Tòa án cấp sơ thẩm nhận định hành vi phạm tội của bị cáo có tính côn đồ và áp dụng tình tiết định khung hình phạt “Có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên nội dung kháng cáo của bị cáo về phần này không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo: Mặc dù bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã đầu thú; bị cáo đã tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích với 02 tình tiết định khung tăng nặng “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ”, vì vậy, trên cơ sở xem xét toàn diện các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt bị cáo 02 năm 06 tháng tù là có căn cứ.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tài liệu thể hiện bị cáo có thời gian tham gia dân công hỏa tuyến, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bản thân bị cáo đang phải điều trị bệnh tiểu đường type2 và nhiều bệnh mãn tính khác như bệnh tăng huyết áp vô căn, bệnh tim thiếu máu cục bộ, rối loạn chuyển hóa lipoprotein và tình trạng tăng lipid máu. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự được Hội đồng xét xử áp dụng thêm để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật và vẫn đảm bảo được tính răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Do đó kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo H được Hội đồng xét xử chấp nhận, cần sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa về tình tiết định khung hình phạt “Có tính chất côn đồ” là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với việc đề nghị mức hình phạt của bị cáo không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Ngoài ra, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo H là người cao tuổi (64 tuổi). Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có đơn xin miễn án phí nên căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bị cáo H thuộc trường hợp được miễn án phí. Vì vậy, cần sửa bản án sơ thẩm về phần này.
Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Đỗ Văn H được miễn.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Đỗ Văn H; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 38/2021/HS-ST ngày 29/6/2021 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Bình Phước về phần hình phạt và án phí đối với bị cáo Đỗ Văn H.
Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; Các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Đỗ Văn H 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Miễn cho bị cáo.
Án phí hình sự phúc thẩm: Miễn cho bị cáo.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Phước; - PV 06 - CA tỉnh Bình Phước; - TAND, VKSND huyện H; - Chi cục THADS huyện H; - CQĐT - Công an huyện H; - Cơ quan THAHS - Công an huyện H; - Bị cáo; - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước; - Cổng thông tin điện tử Tòa án; - Lưu hồ sơ vụ án, Tổ HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Quang Ninh |