- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| QUẬN THỐT NỐT TP. CẦN THƠ **** | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2021/HNGĐ – ST Ngày: 02/7/2021 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - TP. CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Bá Lộc
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thị Ánh
2. Ông Chung Khánh Nghị
- Thư ký phiên tòa: Ông Điêu Khắc Khanh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ.
- Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Chi
Ngày 02 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 130/2021/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2021 về “ Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2021/QĐXXST- HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2021 và Thông báo mở lại phiên tòa sơ thẩm số 112/TB -TA ngày 06 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Lê Thị Hồng N - sinh năm: 1979 ( có mặt)
ĐKTT: KV. Q, phường W, quận Thốt Nốt, Tp. Cần Thơ
Chổ ở hiện nay: KV. E, phường R, quận Thốt Nốt, Cần Thơ
Bị đơn: Ông Bùi Công H - sinh năm: 1975 ( vắng mặt lần thứ 2)
Địa chỉ: KV. Q, phường W, quận Thốt Nốt, Tp. Cần Thơ
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Lê Thị Hồng N trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 1996 bà và ông Bùi Công H do quen biết và được gia đình chấp thuận nên tự nguyện tiến đến hôn nhân, vợ chồng có tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã W (cũ) ngày 10/03/1997. Quá trình chung sống đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn và ly thân cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn do ông H không lo cuộc sống cho vợ con và còn thiếu nợ nhiều người, có nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống, bà và ông H không tìm được tiếng nói chung, nên hạnh phúc gia đình bị đổ vỡ, không thể hàn gắn lại được và cuộc sống chung không thể kéo dài. Nay bà xác định không còn tình cảm với ông H nên bà yêu cầu được ly hôn với ông H.
Về con chung: Qúa trình chung sống bà và ông H có 02 con chung tên: Bùi Công D, sinh ngày: 28/4/1997, Bùi Thị Trúc K, sinh ngày: 01/02/2010, hiện cháu D đã đủ tuổi trưởng thành và đủ khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, hiện cháu K đang sống chung với bà, khi ly hôn bà yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu K đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn ông Bùi Công H: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông H đến Tòa án để hòa giải, động viên các đương sự bỏ qua mâu thuẫn, trở về đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng ông không đến nên không tiến hành hòa giải được và cũng không ghi nhận được ý kiến của ông H về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Qua kết quả xác minh tại địa phương được biết ông Bùi Công H, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu vực Q, phường W, quận Thốt Nốt, Tp. Cần Thơ nhưng khoảng năm 2017 cho đến nay ông H thường xuyên vắng mặt tại địa phương.
Tại Biên bản xác minh ngày 06/5/2021 bà Bùi Thị Huệ cho biết: Bà có mối quan hệ mẹ ruột bị đơn ông Bùi Công H, mẹ chồng bà Lê Thị Hồng N, bà có nhận thay thông báo thụ lý vụ án hôn nhân gia đình và giấy triệu tập đương sự ông Bùi Công H, bà có thông báo lại cho ông H biết còn việc ông H có đến Tòa án giải quyết vụ án hay không thì bà không biết đến, ông H cũng biết bà N nộp đơn ly hôn, nhưng do ông đang đi làm ăn ở xa tỉnh Đồng Nai nên không về giải quyết vụ án được, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa ông H và bà N là do ông H làm ăn thất bại, thiếu nợ nhiều người, từ đó xảy ra cự cải hạnh phúc gia đình bị đổ vỡ, ông bà ly thân khoảng năm 2020 cho đến nay, quá trình ông H, bà N chung sống có 02 con chung tên: Bùi Công D, sinh ngày: 28/4/1997, Bùi Thị Trúc K, sinh ngày: 01/02/2010, hiện cháu D đã đủ tuổi trưởng thành và đủ khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, hiện cháu K đang chung sống với bà N, khi ly hôn ông H đồng ý nhường quyền nuôi dưỡng cháu K cho bà N, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Tại phiên tòa hôm nay: Nguyên đơn bà Lê Thị Hồng N vẫn giữ nguyên yêu cầu và ý kiến đã trình bày trong quá trình Tòa án thu thập chứng cứ, không bổ sung gì thêm.
Bị đơn ông Bùi Công H vắng mặt lần thứ 2, không có lý do.
Đại diện viện kiểm sát phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán; Hội đồng xét xử; Thư ký và việc chấp hành pháp luật của đương sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời phát biểu ý kiến và đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lê Thị Hồng N được ly hôn với ông Bùi Công H.
Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên: Bùi Công D, sinh ngày: 28/4/1997, Bùi Thị Trúc K, sinh ngày: 01/02/2010, hiện cháu D đã đủ tuổi trưởng thành và đủ khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết. Giao cháu K cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Tách phần tài sản chung, nợ chung giải quyết thành vụ kiện khác khi đương sự có yêu cầu.
Về án phí hôn nhân gia đình: Nguyên đơn phải nộp theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Bùi Công H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để xét xử nhưng ông vẫn vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông H là phù hợp theo quy định khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Lê Thị Hồng N yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Bùi Công H nhưng ông vắng mặt không rõ lý do. Do đó, quan hệ pháp luật trong vụ án được xác định là tranh chấp về hôn nhân và gia đình mà cụ thể là “ Tranh chấp ly hôn ” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Hiện ông Bùi Công H có cư trú tại khu vực Q, phường W, quận Thốt Nốt, Tp. Cần Thơ. Do đó, nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, Tp. Cần Thơ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Xét bà Lê Thị Hồng N và ông Bùi Công H do quen biết và được gia đình chấp thuận nên tự nguyện tiến đến hôn nhân, có tổ chức lễ cưới, nhưng có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn và bà N có đơn khởi kiện ly hôn đối với ông H nên Tòa án thụ lý xem xét, giải quyết theo thủ tục chung.
Xét yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Hồng N đối với ông H thì thấy: Bà N cho rằng trong quá trình chung sống giữa ông bà phát sinh mâu thuẫn do ông H không lo cuộc sống cho vợ con và còn thiếu nợ nhiều người, có nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống, bà và ông H không tìm được tiếng nói chung, nên hạnh phúc gia đình bị đổ vỡ, không thể hàn gắn lại được và cuộc sống chung không thể kéo dài. Tại phiên tòa hôm nay, bà xác định không còn tình cảm với ông Bùi Công H nên yêu cầu được ly hôn với ông H.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông H nhưng ông H đều vắng mặt, không có lý do. Từ đó cho thấy, ông H đã không còn quan tâm đến quan hệ hôn nhân với bà N cũng như không có thiện chí hoà giải hàn gắn tình cảm vợ chồng do mâu thuẫn giữa ông bà đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu tiếp tục kéo dài đời sống chung cũng không hạnh phúc. Vì vậy, yêu cầu ly hôn của bà N là có căn cứ và phù hợp theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con chung: Qúa trình chung sống bà và ông H có 02 con chung tên: Bùi Công D, sinh ngày: 28/4/1997, Bùi Thị Trúc K, sinh ngày: 01/02/2010, hiện cháu D đã đủ tuổi trưởng thành và đủ khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, hiện cháu K đang sống chung với bà. Khi ly hôn bà yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu K đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về vấn đề nuôi con: Xét thấy việc giao con cho ai nuôi phải xem xét quyền lợi mọi mặt của con, từ khi ly thân đến nay cháu K do bà N trực tiếp nuôi dưỡng để ổn định tâm lý, đảm bảo quyền lợi mọi mặt và nguyện vọng của con chung nên cần tiếp tục giao cháu K cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng, đồng thời, dành cho ông H được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở và có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con vì lợi ích của con là đúng theo quy định tại các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Xét việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của cha mẹ, người không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bà N trực tiếp nuôi con nhưng không yêu cầu ông H cấp dưỡng là tự nguyện vì bà có khả năng đảm bảo cuộc sống cho con nên Hội đồng xét xử không buộc ông H cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Lê Thị Hồng N xác định không có. Tuy nhiên, do ông H vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét thấy cần tách phần tài sản chung, nợ chung ra giải quyết thành vụ kiện khác khi đương sự có yêu cầu.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lê Thị Hồng N phải chịu theo quy định pháp luật.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án là có cơ sở chấp nhận,
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
- Các Điều 51, 53, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên án:
1/ Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho bà Lê Thị Hồng N được ly hôn với ông Bùi Công H.
2/ Về con chung: Ông bà có 02 con chung tên: Bùi Công D, sinh ngày: 28/4/1997, Bùi Thị Trúc K, sinh ngày: 01/02/2010, hiện cháu D đã đủ tuổi trưởng thành và đủ khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Giao cháu K cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng đến tuổi trưởng thành, ông H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông H không ai được quyền cản trở. Ông H, bà N có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con vì lợi ích của con theo quy định pháp luật.
3/Về tài sản chung, nợ chung: Tách phần tài sản chung, nợ chung giải quyết thành vụ kiện khác khi đương sự có yêu cầu.
4/ Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Lê Thị Hồng N phải nộp số tiền 300.000đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đồng bà đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 002671 ngày 04/3/2021, công nhận bà đã nộp xong.
5/Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt theo quy định pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND TP Cần Thơ; - VKSND Q. Thốt Nốt; - Chi Cục THA DS Q. Thốt Nốt; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Bá Lộc |