vanban.org

Bản án 50/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Thân Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn Ph. Về án phí: Chị Thân Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/00006281…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hậu Phong"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN
TỈNH BẮC GIANG
Bản án số: 50/2021/HNGĐ-ST
Ngày 16 - 9 - 2021
V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Duyên

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Sửu; Ông Trần Văn Thiện.

Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Xuân Trường – Thẩm tra viên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số103/2021/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2021 về việc tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 187/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2021 và quyết định hoãn phiên tòa số 116/2021/QĐST - HNGĐ ngày 10/9/2021 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Thân Thị H - sinh năm 1995 (có mặt)

Nơi cư trú: thôn Hùng Lãm, xã Hồng Thái, huyện Việt Yên, Bắc Giang.

* Bị đơn: Anh Nguyễn Văn Ph - sinh năm 1994 (vắng mặt)

Nơi cư trú: thôn Hương, xã Liên Ch, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn là chị Thân Thị H trình bày:

Chị kết hôn với anh Nguyễn Văn Ph năm 2019, trước khi kết hôn có tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện rồi đăng ký kết hôn tại UBND xã Liên Ch. Sau khi cưới chị về làm dâu nhà anh Ph, thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng giữa năm 2021 thì phát sinh mẫu thuẫn. Nguyên nhân là do anh Ph chơi bời cờ bạc trên mạng xã hội dẫn đến thua lỗ kinh tế khó khăn, chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh Ph không thay đổi mà vẫn tiếp tục lấn sâu vào còn đường cờ bạc dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau làm mâu thuẫn càng thêm trầm trọng vào tháng 5/2021 chị thấy tình cảm không thể hàn gắn được nên xin phép bố mẹ chồng cho về nhà bố mẹ đẻ ở Hùng Lãm, Hồng Thái, Việt Yên sống, vợ chồng chị sống ly thân từ đó đến nay không ai quan tâm gì nhau nữa. Sau đó anh Ph có đến đón chị nhưng chị thấy tình cảm không thể hàn gắn được nên chị không về. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn và xin được ly hôn anh Nguyễn Văn Ph.

Về con chung, về tài sản chung, quyền và nghĩa vụ chung về tài sản, công nợ, công sức đóng góp trong thời gian ở chung, ruộng canh tác: Chị H không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Tại phiên toà, chị H giữ nguyên yêu cầu.

Đối với anh Nguyễn Văn Ph, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng anh Ph không đến Tòa án làm việc tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đảm bảo theo quy định.

Đối với những người tham gia tố tụng: nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn. Xử cho chị Thân Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn Ph, chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án và thẩm tra chứng cứ tại phiên toà, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết, thủ tục tố tụng: Chị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Văn Ph có nơi cư ĐKHK và nơi ở tại thôn Hương, xã Liên Ch, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân huyện Tân Yên đã thụ lý giải vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình là đúng pháp luật, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành hòa giải nhưng không thành nên đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định.

Tại phiên tòa, anh Ph đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do nên Hội đồng xét xử xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Ph là đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh Ph kết hôn ngày 16/10/2019 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Liên Ch, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang nên hôn nhân giữa anh chị là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị đã có thời gian chung sống hạnh phúc tại gia đình anh Ph nhưng do anh Ph chơi cờ bạc trên mạng xã hội dẫn đến thua lỗ kinh tế khó khăn, chị khuyên bảo nhiều lần anh Ph không thay đổi. Vợ chồng chị xảy ra mâu thuẫn trầm trọng vào tháng 5/2021 dẫn đến chị đã về nhà bố mẹ đẻ ở Hùng Lãm, Hồng Thái, huyện Việt Yên sống cũng từ đó anh chị sống ly thân, không ai quan tâm gì nhau nữa. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị xin được ly hôn anh Nguyễn Văn Ph. Tại các biên bản làm việc các ngày 26/6/2021, ngày 11/8/2021 với bố mẹ đẻ của anh Ph và chính quyền địa phương đã xác định chị H, anh Ph có mâu thuẫn, đang sống ly thân nhau là đúng. Hội đồng xét xử thấy, mâu thuẫn giữa chị H và anh Ph đã trầm trọng, đời sống chung thực tế không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, cần xử cho chị H ly hôn anh Ph là phù hợp.

[3] Về con chung, về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức đóng góp trong thời gian ở chung, ruộng canh tác: Chị H không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: Chị H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 146; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Thân Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn Ph.

2. Về án phí: Chị Thân Thị H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/00006281 ngày 04 tháng 5 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Yên. Xác nhận chị Thân Thị H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án./

Cỡ chữ