- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
Số: 50/2021/HNGĐ-ST Ngày: 28/12/2021 |
TÒ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT HUYỆN PHÚ GIÁO N M V/v ly hôn, tranh ch p về nuôi con NHÂN D NH N ỚC CỘNG HÒ XÃ HỘI CHỦ NGHĨ VIỆT N M TÒ ÁN
NHÂN DÂN H
UYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH D ƠNG
- hành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩ phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mùi. Các Hội thẩ nhân dân: Ông Phạm Văn Trung; Bà Võ Thị Thu Thảo. - hư ký phiên toà: Ông Hồ Phúc Vĩnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. - Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Linh - Kiểm sát viên. Ngày 28 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở TAND huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 380/2020/TLST-HNGĐ ngày 01/10/2020 về việc “Ly hôn, tranh ch p về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 17/11/2021, giữa các đương sự: - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1989; Địa chỉ: Tổ A, khu phố B, TT. P, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1991; Địa chỉ: Ấp A, xã T, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Vắng Mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện, bản tự khai bà Nguyễn Thị T trình bày: - Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Văn S sống chung vợ chồng từ năm 2014, việc sống chung hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương ngày 15/4/2014. Quá trình chung sống lúc đầu hạnh phúc nhưng sau đó thì không hạnh phúc nữa. Nguyên nhân do bà và ông S không hợp nhau, không tin tưởng lẫn nhau, ông S không quan tâm đến gia đình dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Bà đã cố gắng khuyên bảo ông S nhưng không được. Bà và ông S ly thân từ tháng
10/2020, không qua lại thăm hỏi, chăm sóc lẫn nhau. Nay bà kiên quyết ly hôn với ông Nguyễn Văn S. - Về con chung: Ông bà có 01 con chung là Nguyễn Thị N, sinh ngày 02/7/2015. Bà C yêu cầu nuôi con chung, yêu cầu ông S c p dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. - Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông Nguyễn Văn S được Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt, không đưa ý kiến với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo phát biểu ý kiến: - Về việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng, của những người tiến hành tố tụng đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. - Về nội dung vụ án: Về hôn nhân: Bà C và ông S chung sống với nhau có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp, do có mâu thuẫn vợ chồng, hiện không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau, nguyên đơn yêu cầu được ly hôn, bị đơn không có ý kiến với yêu cầu của nguyên đơn. Nhận th y mục đích hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử ch p nhận yêu cầu của nguyên đơn cho nguyên đơn được ly hôn với bị đơn. Về con chung: Bà C và ông S có 01 con chung là Nguyễn Thị N, sinh ngày 02/4/2015. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung Nguyễn Thị N cho Bà C nuôi dưỡng. Buộc ông S phải c p dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết. NHẬN ĐỊNH CỦ TÒ ÁN: Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa; sau khi Kiểm sát viên phát biểu về việc ch p hành pháp luật tố tụng dân sự của người tiến hành tố tụng và của đương sự, về nội dung vụ án, Hội đồng xét xử
nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án “Ly hôn, tranh ch p về nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khi thụ lý vụ án bị đơn cư trú tại thị tr n Phước Vĩnh, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về sự vắng mặt của nguyên đơn, bị đơn tại phiên tòa: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T có đơn xin vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Văn S đã được Tòa án nhân dân huyện Phú Giáo niêm yết gi y triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. [3] Về hôn nhân: Nguyên đơn, bị đơn chung sống với nhau trên cơ sở được tìm hiểu tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương ngày 15/4/2014 là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Trong quá trình chung sống nguyên đơn trình bày mâu thuẫn xảy ra do nguyên đơn và bị đơn không hợp nhau, không tin tưởng lẫn nhau, thường xuyên cãi nhau, hiện đã ly thân và không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau nên nguyên đơn yêu cầu được ly hôn với bị đơn. Bị đơn không có ý kiến với yêu cầu của nguyên đơn. Tại Biên bản xác minh ngày 08/6/2021 được Ủy ban nhân dân xã T xác nhận: Nguyên đơn và bị đơn không yêu cầu địa phương hòa giải mâu thuẫn vợ chồng, ông bà đã sống ly thân từ cuối năm 2020. Hội đồng xét xử xét th y, mâu thuẫn vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc xin ly hôn của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, bị đơn không có ý kiến với yêu cầu của nguyên đơn, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử ch p nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn đối với bị đơn theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. [4] Về con chung: Căn cứ vào lời khai nhận của đương sự, bản sao gi y khai sinh, xác định nguyên đơn và bị đơn có với nhau 01 con chung tên là Nguyễn Thị N, sinh ngày 02/7/2015. Nguyên đơn yêu cầu được nuôi con chung, bị đơn không có ý kiến về việc nuôi con. Hội đồng xét xử xét các điều kiện về nuôi con, sự ổn định tâm lý của trẻ em nên giao con chung Nguyễn Thị N cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. [5] Về c p dưỡng nuôi con: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải c p dưỡng nuôi con 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Hội đồng xét xử cân nhắc các điều kiện kinh tế, nhu cầu sinh hoạt của trẻ, cơ sở thu nhập của người dân lao động tại địa phương. Do đó, yêu cầu c p dưỡng nuôi con của nguyên với bị đơn là phù hợp nên ch p nhận. [6] Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. [7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về nội dung vụ án là có căn cứ nên Hội đồng xét xử ch p nhận. [8] Về án phí: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, khoản 2 Điều 244, các Điều 227, 228, 238, 266, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; - Các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; - Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử: Ch p nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T đối với bị đơn ông Nguyễn Văn S. 1. Về hôn nhân: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T được ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Văn S. 2. Về con chung: Giao con Nguyễn Thị N, sinh ngày 02/7/2015 cho nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trực tiếp nuôi dưỡng. Không ai được cản trở ông Nguyễn Văn S trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Vì quyền lợi hợp pháp, chính đáng của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức c p dưỡng nuôi con khi đương sự có yêu cầu phù hợp với quy định của pháp luật. 3. Buộc ông Nguyễn Văn S phải c p dưỡng nuôi con Nguyễn Thị N 1.500.000đ (một triệu năm trăm nghìn đồng)/tháng cho đến khi cháu Linh đủ 18 tuổi. Thời gian c p dưỡng tính từ khi án có hiệu lực pháp luật. Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm thi hành thì hàng tháng còn phải trả lãi theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án. 4. Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự không yêu cầu giải quyết, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. 5. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị T phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) được kh u trừ số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2016/0043544 ngày 28 tháng 9 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Phú Giáo; - Những người tham gia tố tụng; - Chi cục THADS huyện Phú Giáo; - UBND xã T, huyện Phú Giáo; - Lưu hồ sơ, VP. Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌ PHIÊN TÒ (số 15 quyển số 01/2012); Nguyễn Thị Mùi Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Nga Phạm Văn Cảnh Nguyễn Thị Mùi |