- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Dư Minh Đức - Đào Thu Trang"
- Tòa quyết gì? Xử cho anh Dư Minh Đ ly hôn với chị Đào Thị Thu Trang.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị; Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG TỈNH LÀO CAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2021/HNGĐ-ST Ngày 29 - 9 - 2021 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẢO THẮNG
Thành"phần"Hội"đồng"xét"xử"sơ"thẩm"gồm"có:"
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"tòa: Bà Lìn Thị Lài."
Các"Hội"thẩm"nhân"dân:
1. Ông Phạm Tuấn Thịnh.
2. Ông Lương Văn Hưng.
Thư" ký" phiên" toà: Ông Ngô Hoàng Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai.
Đại"diện"viện"kiểm"sát"nhân"dân"huyện"Bảo"Thắng"tham"gia"phiên"tòa: Bà Lê Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 93/2021/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 5 năm 2021 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 8 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24/2021/QĐST - HNGĐ ngày 13 tháng 9 năm 2021 giữa các đương sự:
1."Nguyên"đơn:"Anh"Dư"Minh"Đ"-"Sinh"năm"1979." "
ĐKHKTT:"Tổ"dân"phố"2B,"thị"trấn"Phố"Ràng,"huyện"Bảo"Yên,"tỉnh"Lào" Cai" "
Nơi"ở:"Tổ"dân"phố"số"2,"thị"trấn"Tằng"Loỏng,"huyện"Bảo"Thắng,"tỉnh"Lào" Cai""-"có"mặt." "
2."Bị"đơn:"Chị"Đào"Thị"Thu"Trang"-"Sinh"năm"1990."
""""""""""""""""""""""""""" """"""""""Địa"chỉ:"Tổ"dân"phố"số"2,"thị"trấn"Tằng"Loỏng,"huyện"Bảo"Thắng,"Lào"Cai" -"(Vắng"mặt"tại"phiên"tòa"lần"thứ"hai"không"có"lý"do)."
"
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 27/4/2021 và bản tự khai ngày 05/5/2021 cũng như tại phiên tòa, anh Dư Minh Đ trình bầy: Anh và chị Đào Thị Thu Trang kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 01/11/2010, tại UBND thị trấn Tằng Loỏng, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2019 thì xẩy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh bị tai nạn, chị Trang không quan tâm chăm sóc mà thường xuyên bỏ nhà đi một vài ngày mới về, xuất phát từ đó tình cảm vợ chồng dạn nứt, mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng không khắc phục được mà mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Đào Thị Thu Trang.
Về con chung: Quá trình chung sống chúng vợ chồng anh có một con chung là cháu Dư Minh Vũ, sinh ngày 12/5/2011, hiện nay cháu khỏe mạnh phát triển bình thường và đang ở cùng anh, khi ly hôn anh có nguyện vọng trực tiếp nuôi cháu Vũ, anh không yêu cầu chị Trang cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung: Vợ chồng anh không có tài sản chung, khi ly hôn anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ chung: Vợ chồng anh không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ gì nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với chị Đào Thị Thu Trang trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án không tống đạt được các văn bản tố tụng cho chị Trang được, do chị không có mặt tại địa phương nên Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng chị Trang đều vắng mặt và cũng không có văn bản trả lời ý kiến với Tòa án.
Đối với vụ án này Toà án không hòa giải được về quan hệ hôn nhân và nuôi dưỡng, chăm sóc con chung vì vắng mặt bị đơn.
Tại phiên tòa vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bảo Thắng đã xác định: Quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đều tuân theo trình tự pháp luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt pháp luật, bị đơn không chấp hành pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận đơn khởi kiện của anh Dư Minh Đ.
Xử cho anh Dư Minh Đ ly hôn chị Đào Thị Thu Trang; Xử giao cháu Dư Minh Vũ, sinh ngày 12/5/2011, cho anh Dư Minh Đ trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Đào Thị Thu Trang không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Tuyên nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo cho các đương sự theo đúng quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Anh Dư Minh Đ khởi kiện xin ly hôn với Đào Thị Thu Trang đảm bảo điều kiện theo quy định của pháp luật, anh Dư Minh Đ đăng ký hộ khẩu tổ dân phố 2B, thị trấn Phố Ràng, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai, chị Đào Thị Thu Trang đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố số 2, thị trấn Tằng Loỏng, huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Vì vậy đây là tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai theo quy định tại Điều 28 và Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Anh Dư Minh Đ và chị Đào Thị Thu Trang có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, vì vậy đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân mâu thuẫn là do anh Đức bị tai nạn, chị Trang không quan tâm chăm sóc, xuất phát từ đó tình cảm vợ chồng bị rạn nứt, khi mâu thuẫn xảy ra vợ chồng anh đã được gia đình khuyên bảo nhiều lần nhưng mâu thuẫn của vợ chồng anh không khắc phục được. Thực tế vợ chồng anh đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2019 đến nay không quan tâm đến nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã được chính quyền địa phương xác nhận là đúng sự thật. Tại phiên toà hôm nay anh Dư Minh Đ giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với chị Đào Thị Thu Trang.
Đối với chị Đào Thị Thu Trang vắng mặt tại phiên tòa, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án không tống đạt được các văn bản tố tụng cho chị Trang được, vì trong quá trình giải quyết vụ án chị không có mặt tại địa phương nên Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng chị Trang đều vắng mặt và cũng không có văn bản trả lời ý kiến với Tòa án, vì vậy cần xem xét giải quyết vắng mặt chị Trang là phù hợp với quy định của pháp luật.
Xét thấy, việc anh Dư Minh Đ xin ly hôn với chị Đào Thị Thu Trang là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Anh Dư Minh Đ và chị Đào Thị Thu Trang có một con chung là Dư Minh Vũ, sinh ngày 12/5/2011. Tại phiên tòa hôm nay anh Đức vẫn giữ nguyên yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vũ, anh không yêu cầu chị Trang cấp dưỡng tiền nuôi con. Anh Đức cung cấp chứng cứ là bản sao hợp đồng lao động giữa người lao động là anh Dư Minh Đ và người sử dụng lao động Công ty Khoáng Sản - Chi nhánh luyện Đồng Lào Cai, có mức lương và phụ cấp là 4.235.000đồng/tháng; mặt khác trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã ghi ý kiến của người chưa thành niên đối với cháu Dư Minh Vũ thì cháu Vũ có nguyện vọng được anh Đức trực tiếp nuôi dưỡng. Vì vậy xét yêu cầu xin được trực tiếp nuôi con của anh Đức là có căn cứ nên HĐXX cần chấp nhận giao cháu Vũ cho anh Đức trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với nguyện vọng của cháu Vũ. Anh Đức không yêu cầu chị Trang cấp dưỡng tiền nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Anh Đức xác nhận vợ chồng anh không có tài sản chung, khi ly hôn anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ: Anh Đức xác nhận vợ chồng anh không vay nợ ai và cũng không cho ai vay nợ gì, khi ly hôn anh không yêu cầu tòa án giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Vì"các"lẽ"trên,"
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự; Khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Xử cho anh Dư Minh Đ ly hôn với chị Đào Thị Thu Trang.
2. Về con chung: Xử giao cháu Dư Minh Vũ, sinh ngày 12/5/2011, cho anh Dư Minh Đ trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi cháu trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị Đào Thị Thu Trang không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, chị Đào Thị Thu Trang có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, mà không ai được cản trở.
3. Về án phí: Anh Dư Minh Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số 0002536 ngày 04/5/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai; Anh Đức đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nơi"nhận:" "
"
"""""""""""""""""""" TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Lào Cai;
| - VKSND huyện Bảo Thắng (2); - THADS huyện Bảo Thắng (2); - UBND thị trấn Tằng Loỏng; - Đương sự (02); - Lưu HS, TA, VP . | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lìn Thị Lài |