- Tranh chấp gì? án hình sự — "- các bị cáo Trần Huỳnh Quang V, Võ Vĩ L phạm tội: «Trộm cắp tài sản». - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số đi…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trần Huỳnh Quang V, Võ Vĩ L phạm tội: «Trộm cắp tài sản».
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2020/HS-ST Ngày: 19/8/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 6, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Liên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Phước Mãng.
Ông Hoàng Hữu Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thư Nhàn - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2020/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 68/2020/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 8 năm 2020 đối với các bị cáo:
1. Trần Huỳnh Quang V; Sinh ngày: 04/12/1992; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 1051/41/2 đường HG, Phường K, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Trần Thanh D và bà: Huỳnh Thị L; Có vợ: Không và con: Không; Tiền sự: Không; Bị bắt, tạm giam ngày 18/12/2019 (bị tạm giữ trước từ ngày 23/11/2019 đến ngày 24/11/2019 được trả tự do).
Tiền án:
- Ngày 20/9/2016, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội «Trộm cắp tài sản» (Bản án số: 262/2016/HSST). Đã thi hành xong phần án phí ngày 17/4/2018 (Công văn trả lời xác minh số: 110/CCTHADS ngày 20/5/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Ngày 29/9/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm tù về tội «Trộm cắp tài sản» (Bản án số: 274/2016/HSST). Đã thi hành xong phần án phí và hình phạt bổ sung ngày 26/12/2018 (Công văn trả lời xác minh số: 60/CCTHADS ngày 28/02/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh).
Ngày 21/11/2016, Chánh án Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định tổng hợp hình phạt của Bản án số: 262/2016/HSST ngày 20/9/2016 và Bản án số: 274/2016/HSST ngày 29/9/2016. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 03 năm tù (Quyết định số: 01/THHP). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/9/2018 (Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số: 213/GCN của Trại giam Thủ Đức).
Nhân thân: Ngày 24/11/2019, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 13, Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định đưa vào Cơ sở Xã hội Nhị Xuân để quản lý, cắt cơn, giải độc, phục hồi sức khỏe và tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (Quyết định số: 575/QĐ-UBND). Đến ngày 17/12/2019, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 13, Quận 6 quyết định hủy Quyết định số: 575/QĐ-UBND do Trần Huỳnh Quang V bị cáo đã bị khởi tố về tội trộm cắp tài sản (Quyết định số: 591/QĐ-UBND).
(có mặt)
2. Võ Vĩ L; Sinh ngày: 17/4/1993; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: 1171/40 (số cũ: 761/38) đường BTH, Phường F, Quận K, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Dân tộc: Hoa; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Võ Văn T và bà: Diệp Tuyết N; Có vợ: Không và con: Không; Tiền án: Không; Bị bắt, tạm giam ngày 18/12/2019.
Tiền sự: Ngày 19/9/2017, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 21 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy (Quyết định số: 456/2017/QĐ-TA). Chấp hành xong ngày 23/4/2019 (Giấy chứng nhận số: 223/CN-CS2 ngày 17/4/2019 của Cơ sở cai nghiện ma túy Số 2).
Nhân thân: Ngày 20/12/2016, bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản» (Bản án số: 320/2016/HSST). Bị cáo kháng cáo, nhưng ngày 14/02/2017 bị cáo có đơn xin rút kháng cáo, nên ngày 23/02/2017 Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm (Quyết định đình chỉ số: 52/2017/QĐPT-HS). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 23/4/2017 và đã thi hành xong phần án phí ngày 28/4/2017 (Giấy chứng nhận chấp hành xong án phạt tù số: 569/2017/GCN của Cơ quan thi hành án hình sự Thành phố Hồ Chí Minh và Công văn trả lời xác minh số: 626/CCTHADS ngày 09/01/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh).
(có mặt)
- Bị hại:
1. Ông Vũ Minh T; Sinh năm: 1996; Thường trú: 663 ấp BH2, xã ĐHT, huyện ĐH, tỉnh Long An; Chỗ ở: 76/22C15 đường BH, Phường M, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt)
2. Ông Trần Minh Q; Sinh năm: 1992; Thường trú: 52A1 khu phố 1, phường PT, thành phố BT, tỉnh Bến Tre; Chỗ ở: 76/22C15 đường BH, Phường M, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt)
3. Ông Nguyễn Nhựt T1; Sinh ngày: 07/3/2000; Thường trú: 971/22 đường HL2, phường BTĐA, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 62B đường TPP, khu phố 7, phường BTĐ, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Nguyễn Tấn Đ; Sinh năm: 1974; Thường trú: 971/22 đường HL2, phường BTĐA, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: 1/67 khu phố BT2, phường TG, thị xã TA, tỉnh Bình Dương.
(vắng mặt)
2. Bà Lê Thị Thủy T3; Sinh năm: 1999; Thường trú: Ấp 2, xã CK, huyện LP, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở: 106 đường GX, phường BHHA, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt)
3. Ông Trần Đình T4; Sinh năm: 1993; Thường trú: Thôn PO, xã LH, thành phố NĐ, tỉnh Nam Định; Chỗ ở: 76/22C15 đường BH, Phường M, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt)
4. Bà Nguyễn Thị Ngọc H; Sinh năm: 1954; Trú tại: 62 đường TPP, khu phố 7, phường BTĐ, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 02 giờ 30 phút ngày 12/11/2019, ông Trần Minh Q và ông Vũ Minh T đến Công an Phường 13, Quận 6 trình báo việc bị mất trộm 02 chiếc xe gắn máy biển số 71B2-238.56, biển số 62P1-613.07 tại nhà số 76/22C15 đường BH, Phường M, Quận F. Vụ việc được Công an Phường 13, Quận 6 chuyển giao Cơ quan điều tra Công an Quận 6 giải quyết.
Qua truy xét, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 triệu tập Trần Huỳnh Quang V, Võ Vĩ L lên làm việc. Qua đấu tranh, Trần Huỳnh Quang V, Võ Vĩ L khai: Khoảng 02 giờ ngày 12/11/2019, sau khi gặp nhau tại tiệm game bắn cá Đại Nam - Số 10 đường số 8, phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân, Trần Huỳnh Quang V rủ Võ Vĩ L và Đạt (không rõ lai lịch) đi lấy trộm tài sản, tất cả đều đồng ý. Sau đó, L điều khiển xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius màu đen (không rõ biển số) chạy đến hẻm 205 đường BH, Phường M, Quận F gặp Thu (không rõ lai lịch) mượn cây kiềm cắt rồi quay lại tiệm game chở V, Đạt chạy lòng vòng tìm tài sản. Trên đường đi, L đưa xe cho Đạt điều khiển chở V và L. Khi chạy đến trước nhà số 76/22C15 đường BH, Phường M, Quận F, cả nhóm quan sát thấy trong nhà để nhiều xe gắn máy mà không có người trông coi, nên L dùng kiềm cắt khung sắt và ổ khóa cửa rào rồi đứng ngoài cảnh giới để Đạt, V đột nhập vào trong nhà dùng bộ đoản (Đạt đưa cho L trước đó) bẻ ổ khóa công tắc chiếc xe gắn máy biển số 71B2-238.56 (loại xe Wave RSX FI 125, màu đỏ-đen), riêng chiếc xe gắn máy hiệu Winner biển số 62P1-613.07 không bẻ khóa được. Sau đó, V và Đạt dẫn 02 chiếc xe ra ngoài. V ngồi lên chiếc xe Winner để Đạt điều khiển xe Sirius, L điều khiển xe Wave thay phiên nhau đẩy V chạy về tiệm game bắn cá Đại Nam.
Sau khi lấy trộm được 02 chiếc xe, Đạt lấy chiếc xe gắn máy biển số 71B2-238.56 chạy đi. L lấy xe Sirius chở V đi mua thức ăn, còn chiếc xe Winner biển số 62P1-613.07 để lại tiệm game. Trên đường đi, V, L phát hiện bên dãy hành lang khu nhà trọ số 62B đường TPP, khu phố 7, phường BTĐ, quận BT có để nhiều xe gắn máy, nên nảy sinh ý định chiếm đoạt, V đứng ngoài cảnh giới để L mở cửa đột nhập vào trong bẻ khóa chiếc xe gắn máy biển số 50N-606.38 (loại xe Yamaha Jupiter MX King 150 màu đỏ đen) của ông Nguyễn Nhựt T1. Do không bẻ khóa được, nên L ra ngoài cảnh giới để V vào trong dùng đoản bẻ khóa cổ xe. Sau đó, V dẫn chiếc xe ra ngoài rồi ngồi lên xe để L điểu khiển xe Sirius đẩy V chạy về tiệm game Đại Nam. Xong, cả hai đi thuê khách sạn ngủ đến trưa cùng ngày quay lại tiệm game thì được biết 02 chiếc xe gắn máy biển số 62P1-613.07 và biển số 50N-606.38 đã bị Công an phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân tạm giữ.
Tại Văn bản số: 2035/TCKH ngày 25 tháng 11 năm 2019 và Bản Kết luận định giá tài sản số: 61/KL-HĐĐGTS ngày 27 tháng 3 năm 2020, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Quận 6 đã kết luận trị giá của 02 chiếc xe gắn máy biển số 71B2-238.56 và biển số 62P1-613.07 tại thời điểm ngày 12/11/2019 tổng cộng là 44.000.000 (bốn mươi bốn triệu) đồng. Cụ thể:
+ 01 xe gắn máy hiệu Wave RSX FI, màu đỏ-đen, biển số 71B2-238.56 (còn khoảng 65% giá trị sử dụng), có giá là: 14.000.000 đồng.
+ 01 gắn máy hiệu Honda Winner, màu xanh-trắng, biển số 62P1-613.07 (còn khoảng 75% giá trị sử dụng), có giá là: 30.000.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 1526/KL-HĐĐGTS ngày 09 tháng 12 năm 2019 và Văn bản số: 894/HĐĐGTS ngày 03 tháng 8 năm 2020, Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự quận Bình Tân đã kết luận trị giá của chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Jupiter MX King biển số 50N1-606.38 (đã qua sử dụng) tại thời điểm ngày 12/11/2019, có giá là: 35.000.000 đồng.
Đối với người tên Đạt (cùng Trần Huỳnh Quang V, Võ Vĩ L thực hiện hành vi phạm tội), người tên Thu (cho Võ Vĩ L mượn cây kiềm cắt sắt), người tên Phương (nhận cầm chiếc xe gắn máy biển số 71B2-238.56) hiện chưa xác định được lai lịch. Ngày 18/01/2020, Cơ quan điều tra Công an Quận 6 đã ra thông báo truy tìm đối với các đối tượng này (Thông báo số: 23/TB-ĐT.HS, số: 24/TB-ĐT.HS, số: 25/TB-ĐT.HS), khi nào bắt được điều tra làm rõ giải quyết sau.
Tại Cáo trạng số: 39/CT-VKS-Q6 ngày 25 tháng 6 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố các bị cáo Trần Huỳnh Quang V, Võ Vĩ L về tội «Trộm cắp tài sản» theo điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Huỳnh Quang V, Võ Vĩ L đều khai nhận chính các bị cáo, đã cùng Đạt đột nhập vào nhà số 76/22C15 đường BH, Phường M, Quận F lấy trộm 02 chiếc xe gắn máy (01 chiếc hiệu Wave RSX FI màu đỏ-đen, 01 chiếc hiệu Honda Winner màu xanh-trắng, các bị cáo không nhớ biển số) vào khoảng 02 giờ ngày 12/11/2019. Ngoài ra, các bị cáo còn khai khoảng một tiếng sau khi lấy trộm 02 chiếc xe nói trên, các bị cáo đã đột nhập vào khu nhà trọ số 62B đường TPP, khu phố 7, phường BTĐ, quận BT lấy trộm 01 chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Jupiter MX King (các bị cáo không nhớ biển số) như nội dung bản cáo trạng nêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Trần Huỳnh Quang V, Võ Vĩ L như bản cáo trạng và sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
Phạt bị cáo Trần Huỳnh Quang V từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm 06 tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản» theo điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Phạt bị cáo Võ Vĩ L từ 04 năm đến 05 năm tù về tội «Trộm cắp tài sản» theo điểm c khoản 2 Điều 173; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Không phạt tiền đối với các bị cáo, do các bị cáo không có khả năng thi hành.
Về bồi thường thiệt hại: Không yêu cầu, nên không đề nghị giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy: 01 khóa bằng kim loại màu trắng dài 13,5cm (một đầu 10, một đầu 14); 01 tuýp bằng kim loại màu trắng có chữ AAOTL, hình chữ L, dài 12cm (hai đầu tròn-lục giác); 01 thanh kim loại dài 6,5cm (một đầu lục giác, một đầu dẹp); 01 thanh kim loại dài 7cm (một đầu lục giác, một đầu dẹp); 01 thanh kim loại dài 5,5cm (một đầu lục giác, một đầu dẹp); 01 thanh kim loại dài 7cm (một đầu tứ giác, một đầu dẹp); 01 thanh hình trụ lục giác (một đầu có 7 lỗ có 4 viên nam châm, một đầu được bọc nhựa màu đen); 01 USB; 01 ổ khóa có chữ ABC (không còn nguyên vẹn); 01 thanh kim loại.
Còn các vật chứng khác, Cơ quan điều tra đã xử lý xong, nên không đề nghị xử lý.
Lời nói sau cùng, các bị cáo Trần Huỳnh Quang V, Võ Vĩ L đều nhận thức được hành vi của các bị cáo là sai, là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo mức án nhẹ nhất để các bị cáo sớm trở về với gia đình, có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Quận 6, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 6, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối chiếu lời khai của các bị cáo Trần Huỳnh Quang V, Võ Vĩ L tại phiên tòa là phù hợp với nhau và phù hợp với Biên bản ghi nhận hình ảnh qua Camera của Công an Quận 6; Biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; lời khai của bị hại Vũ Minh T, Nguyễn Nhựt T1, Trần Minh Q và của người làm chứng tại Cơ quan điều tra cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Trần Huỳnh Quang V, Võ Vĩ L đã phạm tội «Trộm cắp tài sản». Tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Các bị cáo Trần Huỳnh Quang V, Võ Vĩ L đã lén lút đột nhập vào khu nhà trọ số 62B đường Trương Phước Phan, khu phố 7, phường Bình Trị Đông, quận Bình Tân lấy trộm của ông Nguyễn Nhựt T1 01 chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Jupiter MX King biển số 50N1-606.38 trị giá 35.000.000 đồng. Ngoài ra, trước đó một tiếng (khoảng 02 giờ ngày 12/11/2019) với ý định phạm tội có từ trước các bị cáo đã cùng với Đạt dùng kiềm cắt sắt, cắt khung sắt và ổ khóa cửa nhà số 76/22C15 đường BH, Phường M, Quận F lấy trộm 02 chiếc xe gắn máy (01 chiếc hiệu Wave RSX FI, màu đỏ-đen, biển số 71B2-238.56 trị giá 14.000.000 đồng; 01 chiếc hiệu Honda Winner, màu xanh-trắng, biển số 62P1-613.07 trị giá 30.000.000 đồng). Trong lần lấy trộm 02 chiếc xe gắn máy này, theo lời khai của các bị cáo thì V là người chủ động rủ rê và cùng với Đạt trực tiếp dùng đoản bẻ ổ khóa công tắc chiếm đoạt 02 chiếc xe gắn máy hiệu Wave và hiệu Winner. Bị cáo L ngoài việc giúp sức tích cực cho V, Đạt trong việc chiếm đoạt tài sản, còn là người dùng kiềm cắt khung sắt và ổ khóa cửa để V, Đạt đột nhập vào nhà lấy trộm tài sản. Tuy nhiên, hiện Đạt đã bỏ trốn nên Cơ quan điều tra chưa ghi được lời khai của Đạt để làm rõ tính tổ chức, làm rõ vai trò đồng phạm cũng như sự phân công bàn bạc, sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. Do đó, Viện kiểm sát truy tố các bị cáo Trần Huỳnh Quang V, Võ Vĩ L về tội: «Trộm cắp tài sản» thuộc trường hợp «tài sản bị chiếm đoạt trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng» theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, là có căn cứ.
Hành vi của các bị cáo Trần Huỳnh Quang V, Võ Vĩ L không những đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, trị an chung.
Các bị cáo Trần Huỳnh Quang V, Võ Vĩ L đều là những người đã trưởng thành, hoàn toàn có đủ khả năng nhận thức được hành vi cũng như hậu quả do hành vi của các bị cáo gây ra, nhưng do có lối sống buông thả, tham lam, lười lao động chỉ vì muốn có tiền tiêu xài, chơi game và mua ma túy sử dụng để thỏa mãn cơn nghiện mà các bị cáo đã bất chấp pháp luật, cố tình thực hiện hành vi phạm tội nêu trên, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.
Trong khoảng thời gian ngắn, các bị cáo Trần Huỳnh Quang V, Võ Vĩ L đã liên tiếp 02 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác (mỗi lần chiếm đoạt tài sản đều trị giá trên 2.000.000 đồng), là phạm tội thuộc trường hợp «Phạm tội 02 lần trở lên», đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Riêng bị cáo Trần Huỳnh Quang V đã hai lần bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là tái phạm, nên bị cáo còn phải chịu thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngoài ra, bị cáo còn có nhân thân xấu, đó là ngày 24/11/2019, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường 13, Quận 6 quyết định đưa vào Cơ sở Xã hội Nhị Xuân để quản lý, cắt cơn, giải độc, phục hồi sức khỏe và tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Bị cáo Võ Vĩ L, ngày 19/9/2017 bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở Cai nghiện bắt buộc 21 tháng về hành vi sử dụng chất ma túy. Mặt khác, bị cáo còn có nhân thân xấu, đó là ngày 20/12/2016 bị Tòa án nhân dân quận Bình Tân xử phạt 09 tháng tù về tội «Trộm cắp tài sản».
Điều này cho thấy tuy đã được cải tạo, giáo dục, các bị cáo Trần Huỳnh Quang V, Võ Vĩ L vẫn không chịu rèn luyện, tu dưỡng để trở thành người công dân có ích cho xã hội mà ngược lại vẫn tiếp tục sống buông thả để ngày càng lún sâu vào con đường phạm tội.
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo Trần Huỳnh Quang V, Võ Vĩ L là nghiêm trọng, do đó Hội đồng xét xử thấy cần phạt các bị cáo những mức án nghiêm khắc tương xứng mới có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và để phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét các bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa đều có thái độ thành khẩn khai báo, nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình tùy theo tính chất, mức độ, vai trò tham gia phạm tội của từng bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Riêng bị cáo V, ngày 12/11/2019 bà Lê Thị Thủy T3 (bạn gái của bị cáo) đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra cho ông Trần Minh Q, nên Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật hình sự, thì các bị cáo Trần Huỳnh Quang V, Võ Vĩ L còn có thể bị phạt tiền từ 05 triệu đồng đến 50 triệu đồng. Xét các bị cáo không có khả năng thi hành, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
Việc bồi thường thiệt hại: Các bị cáo Trần Huỳnh Quang V, Võ Vĩ L đã chiếm đoạt và làm thiệt hại của ông Trần Minh Q 01 chiếc xe gắn máy hiệu Wave RSX FI, màu đỏ-đen, biển số 71B2-238.56 trị 14.000.000 đồng. Ngày 12/11/2019, bà Lê Thị Thủy T3 (bạn gái của bị cáo Trần Huỳnh Quang V) đã thỏa thuận bồi thường cho ông Q 12.000.000 đồng. Ông Q đã nhận đủ tiền và không có ý kiến hay yêu cầu bồi thường gì thêm (theo hai Biên bản ghi lời khai ngày 08/01/2020, ngày 09/01/2020 của Công an Quận 6; Đơn bồi thường dân sự ngày 12/11/2019 - BL108, 122, 160), do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Riêng các ông Vũ Minh T, Nguyễn Nhựt T1 đã nhận lại tài sản là chiếc xe gắn máy hiệu Honda Winner, màu xanh-trắng, biển số 62P1-613.07 và chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Jupiter MX King biển số 50N1-606.38 và không có ý kiến hay yêu cầu gì về phần bồi thường (theo hai Biên bản ghi lời khai ngày 28/11/2019, ngày 08/01/2020; hai Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 02/12/2019, ngày 19/12/2019 của Công an Quận 6 - BL96, 177, 254, 298), do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Việc xử lý vật chứng: 01 khóa bằng kim loại màu trắng dài 13,5cm (một đầu 10, một đầu 14); 01 tuýp bằng kim loại màu trắng có chữ AAOTL, hình chữ L, dài 12cm (hai đầu tròn-lục giác); 01 thanh kim loại dài 6,5cm (một đầu lục giác, một đầu dẹp); 01 thanh kim loại dài 7cm (một đầu lục giác, một đầu dẹp); 01 thanh kim loại dài 5,5cm (một đầu lục giác, một đầu dẹp); 01 thanh kim loại dài 7cm (một đầu tứ giác, một đầu dẹp); 01 thanh hình trụ lục giác (một đầu có 7 lỗ có 4 viên nam châm, một đầu được bọc nhựa màu đen); 01 ổ khóa có chữ ABC (không còn nguyên vẹn); 01 thanh kim loại, là vật không có giá trị hoặc không sử dụng được, nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Còn 01 USB (chứa dữ liệu ghi lại hình ảnh lấy trộm xe gắn máy tại khu nhà trọ số 62B đường TPP, khu phố 7, phường BTĐ, quận BT vào khuya ngày 12/11/2019), là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Ngọc H, nhưng bà Hạnh từ chối nhận lại (theo Biên bản ghi lời khai ngày 31/12/2019 của Công an quận Bình Tân - 261), nên Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
(theo hai Phiếu nhập kho vật chứng số: 151/PNK ngày 31 tháng 12 năm 2019 và số: 80/PNK ngày 09 tháng 3 năm 2020 của Công an Quận 6; Quyết định chuyển vật chứng số: 16/QĐ-VKS-Q6 ngày 25 tháng 6 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 6 và Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02 tháng 7 năm 2020 của Công an Quận 6)
Còn 01 USB (chứa dữ liệu ghi lại hình ảnh lấy trộm xe gắn máy tại nhà số 76/22C15 đường BH, Phường M, Quận F vào khuya ngày 12/11/2019), là tài sản hợp pháp của ông Trần Đình T4, nên Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại ông Thuận (theo Biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 10/01/2020 của Công an Quận 6 - BL178), do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Đối với chiếc xe gắn máy hiệu Yamaha Sirius màu đen (không rõ biển số) mà các bị cáo Trần Huỳnh Quang V, Võ Vĩ L sử dụng làm phương tiện phạm tội, trong thời gian bỏ trốn bị cáo L khai đa bã ́n lại cho người khác (không rõ lai li ̣ch), nên Cơ quan điều tra không thu hồi được, do đó Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.
Đối với những người tên Đạt, tên Thu, tên Phương. Ngày 18/01/2020, Công an Quận 6 đã ra thông báo truy tìm đối với các đối tượng này và tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát đề nghị lúc nào bắt được Đạt, Thu, Phương điều tra làm rõ giải quyết sau, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Các bị cáo Trần Huỳnh Quang V, Võ Vĩ L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Trần Huỳnh Quang V, Võ Vĩ L phạm tội: «Trộm cắp tài sản».
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điều 58; điểm g, điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Trần Huỳnh Quang V 05 (năm) năm tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2019, được trừ thời gian bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 23/11/2019 đến ngày 24/11/2019.
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điều 58; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Võ Vĩ L 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 18/12/2019.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) khóa bằng kim loại màu trắng dài 13,5cm (một đầu 10, một đầu 14); 01 (một) tuýp bằng kim loại màu trắng có chữ AAOTL, hình chữ L, dài 12cm (hai đầu tròn-lục giác); 01 (một) thanh kim loại dài 6,5cm (một đầu lục giác, một đầu dẹp); 01 (một) thanh kim loại dài 7cm (một đầu lục giác, một đầu dẹp); 01 (một) thanh kim loại dài 5,5cm (một đầu lục giác, một đầu dẹp); 01 (một) thanh kim loại dài 7cm (một đầu tứ giác, một đầu dẹp); 01 (một) thanh hình trụ lục giác (một đầu có 7 lỗ có 4 viên nam châm, một đầu được bọc nhựa màu đen); 01 (một) USB; 01 (một) ổ khóa có chữ ABC (không còn nguyên vẹn); 01 (một) thanh kim loại.
- Căn cứ Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Các bị cáo Trần Huỳnh Quang V, Võ Vĩ L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND Quận 6; - Công an Quận 6; - TAND Tp. Hồ Chí Minh; - Công an Tp. Hồ Chí Minh; - Chi cục THADS Quận 6; - Sở Tư pháp Tp. Hồ Chí Minh; - Các bị cáo; - Bị hại; - Người có QLNVLQ đến vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thùy Liên |