vanban.org

Bản án 50/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Cà Mau Tuyên án 04/06/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/06/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Ngọc Đ.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 03/2020/HS-ST ngày 19 tháng 02 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện Đ D về hình phạt.. Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Ngọc Đ - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Ngọc Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2020/HS-PT
Ngày 04 - 6 – 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Minh Hoàng

Các Thẩm phán:

Ông Trần Trọng Nhân

Ông Đỗ Cao Khánh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thu Khiếm là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Lê Kiều Diễm - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 32/2020/TLPT-HS ngày 27 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo Lê Ngọc Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2020/HS-ST ngày 19 tháng 02 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện Đ D.

- Bị cáo có kháng cáo:

Họ và tên: Lê Ngọc Đ, sinh năm 1978 tại TT; nơi cư trú: Ấp HH, xã TT, huyện Đ D, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm vuông; trình độ học vấn: 02/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Đông và bà Nguyễn Thị Hồng; chồng: Nguyễn Trung Lập, con: 02 người; tiền án, tiền sự: Không; bị khởi tố cho tại ngoại; bị cáo tại ngoại có mặt.

- Những người tham gia tố tụng khác có liên quan đến kháng cáo:

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Huỳnh Công Dung – Luật sư Văn phòng Luật sư Huỳnh Công Dung thuộc Đoàn luật sư tỉnh Cà Mau (có mặt).

- Bị hại: Chị Nguyễn Thị S, sinh năm 1982; nơi cư trú: ẤpTH A, xã TT, huyện Đ D, tỉnh Cà Mau (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ, ngày 24/9/2019 Nguyễn Thị S cùng Nguyễn Thị Quyên, Nguyễn Kiều Út và Nguyễn Trúc Măng đến nhà Nguyễn Trung Lập ở ấp HH, xã TT, huyện Đ D để thắp hương cho cha ruột đã mất. Sau khi thắp hương ở nhà mồ xong thì S cùng Quyên, Út, Măng đi vào nhà Lập thì gặp Lê Ngọc Đ (vợ Lập) đang ngồi trên bộ ván cầm dao gọt trái cây. Lúc này, Đ và Quyên xảy ra mâu thuẫn cự cải với nhau, nên Đ đuổi tất cả những người trên ra khỏi nhà. Đ và Quyên tiếp tục cự cải với nhau, Đ đòi chém Quyên nên Quyên quay lưng đi. Liền lúc này, Đ cầm cây dao chém sau lưng Quyên. S thấy vậy, nên dùng tay trái đỡ dẫn đến bị thương ở cẳng tay, ngón tay và đầu ngón tay. Sau đó, S đi đến Trạm y tế xã TT điều trị.

Tại bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số 263/TgT ngày 17/10/2019 của Trung tâm pháp y tế Sở y tế tỉnh Cà Mau kết luận thương tích đối với Nguyễn Thị S như sau: Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định tính theo Thông tư số 20/2014/TT-BYT ngày 12 tháng 6 năm 2014 của Bộ Y tế là: 09%.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2020/HS-ST ngày 19 tháng 02 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện Đ D quyết định:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51và Điều 54 của Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc Đ 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị bắt chấp hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo pháp luật quy định.

Ngày 29 tháng 02 năm 2020, bị cáo Lê Ngọc Đ có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù, cho bị cáo được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Ngọc Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo Đ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên toà phúc thẩm, bị cáo Lê Ngọc Đ thừa nhận: Vào khoảng 12 giờ, ngày 24/9/2019 trong lúc đang ngồi gọt trái cây ăn tại nhà thì Nguyễn Thị S, Nguyễn Thị Quyên, Nguyễn Kiều Út và Nguyễn Trúc Măng đến nhà bị cáo, nên giữa bị cáo với chị Quyên xảy ra mâu thuẫn cự cải với nhau, bị cáo đuổi tất cả những người trên ra khỏi nhà. Nhưng Quyên tiếp tục cự cải với bị cáo nên bị cáo đòi chém Quyên, Quyên quay lưng đi. Liền lúc này, bị cáo cầm cây dao chém sau lưng Quyên, S thấy vậy, nên dùng tay trái đỡ dẫn đến bị thương ở cẳng tay, ngón tay và đầu ngón tay. Bị cáo thừa nhận kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể 09% đối với bị hại Nguyễn Thị S chính là do bị cáo gây ra, phía bị hại có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo.

Do vậy, Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2020/HS-ST ngày 19 tháng 02 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện Đ D xử bị cáo Lê Ngọc Đ về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

Xét kháng cáo của bị cáo Lê Ngọc Đ thấy rằng: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến sức khỏe người khác một cách trái pháp luật. Trong khi bị cáo và bị hại có mối quan hệ là chị dâu em chồng, nhưng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội để lại hậu quả gây thương tích cho bị hại với tỷ lệ 09% bằng dao – loại hung khí nguy hiểm. Hành vi của bị cáo thể hiện sự hung hăng xem thường pháp luật, đã xâm phạm sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ. Do đó, án sơ thẩm áp dụng hình phạt tù để cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết, nhằm răn đe, giáo dục đối với bị cáo đồng thời phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Tại phiên toà, bị cáo cho rằng trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, bản thân phạm tội lần đầu và bị cáo là cháu nội của Liệt sĩ Trần Văn Bảy, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã khắc phục toàn bộ thiệt hại cho bị hại nên bị cáo xin được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ. Xét các lý do nêu trên là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đã được cấp sơ thẩm xem xét. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 04 tháng tù là dưới khung hình phạt cũng đã tương xứng, phù hợp với quy định của pháp luật; bản án sơ thẩm đã có xem xét toàn diện vụ án cũng như tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội do bị cáo gây ra, phù hợp với nhân thân, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ của bị cáo.

Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm bị cáo đã nộp tiền khắc phục toàn bộ hậu quả theo quyết định của bản án sơ thẩm – đây là tình tiết giảm nhẹ mới theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo.

Từ nhận định trên có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Đ, sửa bản án sơ thẩm giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.

Án phí hình sự phúc thẩm bị cáo không phải chịu theo quy định pháp luật.

Các nội dung khác của quyết định án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị nên không đặt ra xem xét.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Ngọc Đ.

Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 03/2020/HS-ST ngày 19 tháng 02 năm 2020 của Toà án nhân dân huyện Đ D về hình phạt..

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lê Ngọc Đ 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Lê Ngọc Đ chấp hành án.

2. Về án phí: Bị cáo Lê Ngọc Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm; án phí hình sự phúc thẩm bị cáo không phải chịu.

3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ