- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2020/HNGĐ-ST Ngày: 29 - 5 - 2020 “V/v: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán -chủ toạ phiên toà: Ông Huỳnh Văn Dự
Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Hoàng Viết Oanh
- Ông Bùi Ngọc Thảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Quyên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà H’Mi Chan Niê - kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 5 năm 2020, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 83/2020/TLST-HNGĐ ngày 21/02/2020 về việc“Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/4/2020, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thanh T – sinh năm 1984
Địa chỉ: Số X LD, tdp Y, phường ET, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
* Bị đơn: Ông Nguyễn Quang V – sinh năm 1976
Địa chỉ: Tdp Y, phường ET, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T trình bày:
Tôi và anh Nguyễn Quang V kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường ET, thành phố B vào ngày 12/11/2012.
Thời gian đầu chung sống vợ chồng sống hạnh phúc nhưng sau phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng về quan điểm sống vợ chồng thường xuyên cãi nhau, mâu thuẫn vợ chồng xảy ra ngày càng trầm trọng, nếu có tiếp tục chung sống cũng không hạnh phúc nên nguyện vọng của tôi xin được ly hôn với anh Nguyễn Quang V.
Về con chung, chúng tôi có 01 con chung là cháu Nguyễn Bảo A – sinh ngày 01/9/2013, nguyện vọng của tôi là xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu A đến khi trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không có nên không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: Không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Nguyễn Quang V đã được Tòa án tiến hành triệu tập nhiều lần, tuy nhiên ông V không đến Tòa án làm việc nên Tòa án không lấy lời khai của ông V được và không tiến hành phiên hòa giải cho các đương sự được.
* Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương: Ông Nguyễn Quang V không đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ dân phố Y, phường ET, Tp. B, tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên ông Nguyễn Quang V có sinh sống tại địa phương. Về mâu thuẫn vợ chồng: Vợ chồng bà Phạm Thị Thanh T và ông Nguyễn Quang V có phát sinh mâu thuẫn. Tuy nhiên nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn thì địa phương không nắm rõ nên không cung cấp. Đối với yêu cầu xin ly hôn của bà Phạm Thị Thanh T thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Đối với nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Bà Phạm Thị Thanh T và ông Nguyễn Quang V kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật vào ngày 12/11/2012, thời gian đầu ông bà sống hạnh phúc nhưng sau phát sinh mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, tính cách không hợp nhau. Nay bà T nhận thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, đề nghị Tòa án giải quyết cho bà T được ly hôn với ông V là có căn cứ nên cần chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Phạm Thị Thanh T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Quang V, có địa chỉ tại thành phố B, vụ án không có yếu tố nước ngoài nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T vắng mặt nhưng đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Nguyễn Quang V nhưng tại phiên tòa hôm nay ông Nguyễn Quang V vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà T, ông V theo quy định tại khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 241 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nội dung vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thanh T và ông Nguyễn Quang V tự nguyện sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân phường ET, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 208 ngày 12/11/2012), đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng, bà T xác định tình cảm vợ chồng giữa bà và ông V không còn.
Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà T, ông V đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Việc bà T yêu cầu ly hôn với ông V là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Về con chung: Bà Phạm Thị Thanh T và ông Nguyễn Quang V có 01 con chung là cháu Nguyễn Bảo A - sinh ngày 01/9/2013. Hiện nay cháu A đang do bà T trực tiếp nuôi dưỡng.
Quá trình giải quyết vụ án bà T có nguyện vọng nuôi dưỡng cháu A đến khi thành niên, Hội đồng xét xử xét thấy hiện nay cháu A đang do bà T trực tiếp nuôi dưỡng, từ khi ông bà không sống chung với nhau thì ông V không quan tâm chăm sóc cháu. Do đó, để đảm sự phát triển về thể chất và tinh thần, xuất phát từ lợi ích về mọi mặt của cháu Nguyễn Bảo A, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu A cho bà Phạm Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Phạm Thị Thanh T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Bà Phạm Thị Thanh T không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 241; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Thanh T được ly hôn với ông Nguyễn Quang V.
[2] Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Bảo A - sinh ngày 01/9/2013 cho bà Phạm Thị Thanh T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi thành niên.
Ông Nguyễn Quang V có quyền và nghĩa vụ thăm non, chăm sóc con chung không ai được cản trở.
[3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản chung: Không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Nguyên đơn bà Phạm Thị Thanh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo biên lại thu số AA/2019/0005259 ngày 14/11/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đắk Lắk; - VKSND tỉnh Đắk lắk; - VKSND TP BMT; - Chi cục THADS TP BMT; - UBND p. ET, TP.BMT; - Các đương sự; - Lưu HS | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Huỳnh Văn Dự |