vanban.org

Bản án 50/2020/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B đối với ông Nguyễn Thành Đ.

2/ Buộc ông Nguyễn Thành Đ có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B khoản nợ tính đến ngày 25/9/2020 là 9.202.566 đồng, trong đó nợ gốc là 8.345.979 đồng, nợ lãi là 856.587 đồng (lãi trong hạn là 162.331 đồng, lãi quá hạn là 694.256 đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày 2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng B - Nguyễn Thanh Đ"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B đối với ông Nguyễn Thành Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẠC LIÊU
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2020/DS-ST
Ngày 25 tháng 9 năm 2020
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẠC LIÊU, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Lam

Hội thẩm nhân dân: Bà Lâm Thị Nguyệt Hồ

Bà Khƣu Liên Dung

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Văn Kép – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Trần Mỹ Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 9 năm 2020, tại Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 279/2020/TLST-DS ngày 10 tháng 8 năm 2020 về tranh chấp hợp đồng tín dụng;

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2020/QĐXXST-DS ngày 28 tháng 8 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thƣơng mại Cổ phần B.

Địa chỉ: Số M, đường T, phường C, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Doãn S - Chức vụ: Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP B.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Ngô Yến P - Chức danh: Chuyên viên khách hàng Ngân hàng TMCP B Chi nhánh B (vắng mặt).

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1960.

Địa chỉ: Số M, đường L, Khóm B, Phường M, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 28/7/2017 Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (Ngân hàng) và ông Nguyễn Thành Đ đã ký hợp đồng tín dụng thống nhất về việc vay tiền tại Ngân hàng theo nội dung thỏa thuận sau: Số tiền vay 200.000.000 đồng; thời hạn vay 34 tháng; lãi suất cho vay 12% /năm; mục đích vay là tiêu dùng, nợ gốc và lãi được trả cố định ngày 10 hàng tháng, kỳ trả nợ đầu tiên là 10/9/2017.

Từ ngày 10/4/2019 ông Đ không trả nợ đúng hạn, phát sinh nợ quá hạn.

Tính đến ngày 25/9/2020 ông Đ còn nợ Ngân hàng số tiền là 9.202.566 đồng, trong đó nợ gốc là 8.345.979 đồng, nợ lãi là 856.587 đồng (lãi trong hạn là 162.331 đồng, lãi quá hạn là 694.256 đồng).

Ngân hàng yêu cầu ông Đ có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 25/9/2020 là 9.202.566 đồng, trong đó nợ gốc là 8.345.979 đồng, nợ lãi là 856.587 đồng (lãi trong hạn là 162.331 đồng, lãi quá hạn là 694.256 đồng) và kể từ ngày 26/9/2020 cho đến khi chưa thanh toán nợ, yêu cầu ông Đ phải chịu lãi suất quá hạn theo quy định của hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Bị đơn ông Nguyễn Thành Đ trình bày: Ông có vay tiền và hiện còn nợ lại ngân hàng như ngân hàng đã trình bày. Ông đã trả nợ gốc và lãi đúng hạn như thỏa thuận trong hợp đồng vay, không vi phạm thời hạn trả nợ, Ngân hàng khởi kiện là ông không đồng ý, Ngân hàng kiện không đúng quy định. Số nợ này ông sẽ trả trong tháng 9 và tháng 10 năm 2020, mỗi tháng trả ½ số nợ nêu trên.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thà nh phố Bạc Liêu , tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm:

Về việc tuân theo pháp luật:

Tòa án thụ lý giải quyết vụ án này là đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án đã tuân thủ trình tự tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tại phiên tòa hôm nay thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng dân sự.

Nội dung vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B đối với ông Nguyễn Thành Đ.

Buộc ông Nguyễn Thành Đ thanh toán số tiền còn nợ theo hợp đồng vay tính đến ngày 25/9/2020 là 9.202.566 đồng, trong đó nợ gốc là 8.345.979 đồng, nợ lãi là 856.587 đồng (lãi trong hạn là 162.331 đồng, lãi quá hạn là 694.256 đồng) và kể từ ngày 26/9/2020 cho đến khi chưa thanh toán nợ, yêu cầu ông Đ phải chịu lãi suất quá hạn theo quy định của hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Đình chỉ yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B về việc yêu cầu ông Nguyễn Thành Đ thanh toán tiền nợ là 11.418.800 đồng (nợ gốc là 9.456.601 đồng, nợ lãi là 1.962.199 đồng).

Ông Nguyễn Thành Đ phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án; ý kiến của đương sự; quan điểm của đại diện Viện kiểm sát; sau khi thảo luận, nghị án; Hội đồng xét xử nhận thấy:

Thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (gọi tắt là Ngân hàng) khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyễn Thành Đ trả số nợ vay theo hợp đồng tín dụng đã ký kết. Ông Đ có nơi cư trú tại thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu. Căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

Xét xử vắng mặt đương sự: Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Cho nên, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Xét hợp đồng tín dụng: Ngày 28/7/2017 Ngân hàng Thương mại Cổ phần B (Ngân hàng) và ông Nguyễn Thành Đ đã ký hợp đồng tín dụng thống nhất về việc vay tiền tại Ngân hàng theo nội dung thỏa thuận sau: Số tiền vay 200.000.000 đồng; thời hạn vay 34 tháng; lãi suất cho vay 12% /năm; mục đích vay là tiêu dùng, nợ gốc và lãi được trả cố định ngày 10 hàng tháng, kỳ trả nợ đầu tiên là 10/9/2017.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng, việc cấp tín dụng dưới hình thức cho vay của Ngân hàng là phù hợp quy định pháp luật.

Căn cứ theo sao kê lịch trả nợ đối với khoản vay của ông Đ thể hiện, ngày 10/4/2019 là đến kỳ trả nợ của tháng 4, nhưng đến ngày 05/7/2019 ông Đ mới trả nợ, đã trả nợ chậm gần 03 tháng.

Từ ngày 10/4/2019 ông Đ không trả nợ đúng hạn, đến ngày 20/4/2019 Ngân hàng đã chuyển số nợ của ông Đ sang nợ quá hạn.

Tính đến ngày 25/9/2020 ông Đ còn nợ Ngân hàng số tiền là 9.202.566 đồng, trong đó nợ gốc là 8.345.979 đồng, nợ lãi là 856.587 đồng (lãi trong hạn là 162.331 đồng, lãi quá hạn là 694.256 đồng).

Ngân hàng yêu cầu ông Đ có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 25/9/2020 là 9.202.566 đồng, trong đó nợ gốc là 8.345.979 đồng, nợ lãi là 856.587 đồng (lãi trong hạn là 162.331 đồng, lãi quá hạn là 694.256 đồng) và kể từ sau ngày 25/9/2020 cho đến khi chưa thanh toán nợ, yêu cầu ông Đ phải chịu lãi suất quá hạn theo quy định của hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Xét thấy hợp đồng tín dụng đã được ký kết đúng theo quy định pháp luật, yêu cầu trả tiền gốc, lãi của Ngân hàng là có căn cứ chấp nhận.

Theo đơn khởi kiện, Ngân hàng có yêu cầu ông Đ thanh toán tiền số nợ theo hợp đồng tín dụng là 20.621.366 đồng (trong đó nợ gốc là 17.802.580 đồng, nợ lãi là 2.818.786 đồng). Nay Ngân hàng xin rút lại một phần yêu cầu đối với số tiền 11.418.800 đồng (nợ gốc là 9.456.601 đồng, nợ lãi là 1.962.199 đồng), chỉ yêu cầu ông Đ trả số nợ là 9.202.566 đồng (trong đó nợ gốc là 8.345.979 đồng, nợ lãi là 856.587 đồng).

Xét thấy, việc rút yêu cầu nói trên là hoàn toàn tự nguyện, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu đã rút nêu trên của Ngân hàng.

Ngân hàng không phải chịu án phí đối với yêu cầu đã đình chỉ xét xử.

Về án phi dân sự sơ thẩm:

́

Theo quy đi ̣nh tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Ông Nguyễn Thành Đ phải nộp án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Đề nghị của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bạc Liêu có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 3 Điều 26; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; điểm c khoản 1 Điều 217, khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Khoản 2 Điều 91; Điều 95; điểm a khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng;

- Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B đối với ông Nguyễn Thành Đ.

2/ Buộc ông Nguyễn Thành Đ có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần B khoản nợ tính đến ngày 25/9/2020 là 9.202.566 đồng, trong đó nợ gốc là 8.345.979 đồng, nợ lãi là 856.587 đồng (lãi trong hạn là 162.331 đồng, lãi quá hạn là 694.256 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày 25/9/2020 ông Nguyễn Thành Đ còn phải tiếp tục chịu tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

3/ Đình chỉ yêu cầu của Ngân hàng Thương mại Cổ phần B về việc yêu cầu ông Nguyễn Thành Đ thanh toán tiền nợ là 11.418.800 đồng (nợ gốc là 9.456.601 đồng, nợ lãi là 1.962.199 đồng).

4/ Về án phi dân sự sơ thẩm ông Nguyễn Thành Đ phải chịu 460.128 đồng.

́

Ngân hàng Thương mại Cổ phần B không phải chịu án phí. Ngân hàng đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 516.000 đồng theo biên lai số 0007023 ngày 10 tháng 8 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B ạc Liêu , tỉnh Bạc Liêu được hoàn lại.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

̀

̉

Cỡ chữ