vanban.org

Bản án 50/2019/LĐ-ST — Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp

TAND Q. Liên Chiểu, TP Đà Nẵng Tuyên án 19/11/2019 Lao động Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Tranh chấp đòi tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội” của bà Nguyễn Thị Thanh N. Buộc Công ty TNHH MTV T có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị Thanh N lương tháng 6.2018 là 2.904.000 đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp — án lao động — "Bà Nguyễn Thị Thanh N - Công ty TNHH MTV T"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 229 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2019/LĐ-ST
Ngày: 19-11-2019
V/v tranh chấp đòi tiền lương,
bảo hiểm xã hội

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thanh Thủy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Huỳnh Thị Ánh Nguyệt

Nơi công tác: Phó chủ tịch Liên đoàn Lao động quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng

2. Ông Nguyễn Công Chi

Nơi công tác: Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thái Trâm Anh - Thư ký Toà án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Phạm Ái Linh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 19 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 49/2019/TLST-LĐ ngày 30 tháng 7 năm 2019 về tranh chấp “đòi tiền lương, bảo hiểm xã hội” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2019/QĐXX-ST ngày 15 tháng 10 năm 2019; Quyết định hoãn phiên tòa số 50/2019/QĐST-LĐ ngày 01 tháng 11 năm 2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh N – sinh năm 1997;

Địa chỉ: Thôn N, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Bà Lê Thị Ngọc O – sinh năm 1980. Trú tại: Tổ 19, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Văn bản ủy quyền ngày 03.6.2019). Có mặt.

2. Bị đơn: Công ty TNHH MTV T;

Địa chỉ: Đường số 06, khu công nghiệp H, quận L, thành phố Đà Nẵng.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Kim Sangb; trú tại: 6 Nangok 74-gil, G, S, Hàn Quốc là người đại diện theo pháp luật của nguyên đơn (Giám đốc Công ty TNHH MTV T). Vắng mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bảo hiểm xã hội thành phố Đ;

Địa chỉ: Số 43 X, quận H, thành phố Đà Nẵng.

Người đại hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Anh H – Chức vụ: Phó trưởng phòng Quản lý thu là người đại diện theo ủy quyền của Ông Đinh Văn H – Chức vụ: Giám đốc (Văn bản ủy quyền số 1930/BHXH-QLT ngày 18.11.2019). Có mặt.

4. Người làm chứng: Bà Lê Thị Kiều Ch – sinh năm 1981;

Địa chỉ: Số 64/9 Tr, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thanh N và đại diện theo ủy quyền là bà Lê Thị Ngọc O trình bày:

Bà Nguyễn Thị Thanh N vào làm việc tại Công ty TNHH MTV T từ ngày 12.09.2016. Quá trình làm việc, bà N luôn chấp hành nội quy, quy định của Công ty. Tuy nhiên, từ tháng 6.2018 Công ty chỉ thanh toán một phần tiền lương cho bà N. Lương tháng 6.2018 của bà N theo Bảng tổng hợp tiền lương thưởng và các khoản phụ cấp tháng 06/2018 do ông Kim Sangb – Chức vụ: Giám đốc ký là 5.204.224 đồng. Bà N đã 02 lần nhận chuyển khoản lương tháng 6.2018 thông qua Ngân hàng TMCP Đ – Phòng giao dịch khách hàng Ngân nhánh H: lần 01 nhận vào ngày 10.7.2018 là 1.600.000 đồng; lần 02 nhận vào ngày 03.8.2018 là 700.000 đồng; tổng 02 lần nhận là 2.300.000 đồng. Như vậy, Công ty còn nợ bà N lương tháng 06.2018 là 2.904.000 đồng.

- Thực hiện đóng tiền bảo hiểm xã hội còn nợ đối với Bảo hiểm xã hội thành phố Đ: gốc là 17.920.260 đồng và lãi là 1.907.364 đồng. Tổng nợ bảo hiểm xã hội là 19.827.624 đồng.

Tổng tiền bà N yêu cầu là 2.904.000 đồng + 19.827.624 đồng = 22.731.624 đồng (Hai mươi hai triệu bảy trăm ba mươi mốt ngàn sáu trăm hai mươi bốn đồng).

Bị đơn - Công ty TNHH MTV T (Đại diện theo pháp luật: Ông Kim Sangb – Chức vụ: Giám đốc) đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến Tòa án để giải quyết và cũng không có văn bản trình bày ý kiến.

Theo bản tự khai, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Bảo hiểm xã hội thành phố Đ – Đại diện theo ủy quyền là ông Trần Anh H trình bày:

Công ty TNHH MTV T không thực hiện đóng bảo hiểm xã hội cho bà Nguyễn Thị Thanh N từ tháng 11.2016 đến tháng 6.2018 với tổng số tiền gốc là 17.920.260 đồng. Ngoài ra do Công ty TNHH MTV T chậm đóng bảo hiểm xã hội nên phải chịu tiền lãi từ tháng 01.2017 đến tháng 7.2018 là 1.907.364 đồng. Tổng nợ gốc và lãi Công ty còn nợ là 19.827.624 đồng. Việc tính lãi chậm đóng bảo hiểm xã hội năm 2017 thực hiện theo Thông báo số 259/TB-BHXH ngày 02.3.2017 Bảo hiểm xã hội thành phố Đ là 15,8%/năm (1,317%/tháng); lãi chậm đóng Bảo hiểm xã hội năm 2018 thực hiện theo Thông báo số 195/TB-BHXH ngày 30.01.2018 của Bảo hiểm xã hội thành phố Đ là 14,5%/năm (1,2084%/tháng).

Việc người lao động khởi kiện yêu cầu Công ty TNHH MTV T đóng tiền bảo hiểm xã hội còn nợ là đúng quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án buộc Công ty TNHH MTV T đóng số tiền bảo hiểm xã hội còn nợ cho Bảo hiểm xã hội thành phố Đ. Do Công ty TNHH MTV T ngừng hoạt động nên Bảo hiểm xã hội thành phố Đ chỉ tính lãi chậm đóng đến tháng 7.2018, không tiếp tục tính lãi đến thời điểm xét xử cũng như giai đoạn thi hành án sau này.

Người làm chứng – bà Lê Thị Kiều Ch vắng mặt tại phiên tòa và có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt. Tuy nhiên, tại Bản tự khai ngày 01.9.2019 bà Lê Thị Kiều Ch trình bày bà phụ trách công tác hành chính nhân sự của Công ty TNHH MTV T; bảng chấm công từng người lao động tháng 7.2018 (từ ngày 01.7.2018-21.7.2018) là do bà cung cấp; các tài liệu này đều được trích từ hồ sơ quản lý nhân sự trong thời gian làm việc tại Công ty TNHH MTV T. Đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết theo quy định.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu:

- Về thủ tục tố tụng: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu thống nhất về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án. Các đương sự đã được đảm bảo thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; riêng bị đơn là Công ty TNHH MTV T đã không trình bày ý kiến của mình và vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình tố tụng mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nên phải chịu hậu quả pháp lý về sự vắng mặt của mình.

- Về nội dung vụ án: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu đề nghị HĐXX chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc Công ty TNHH MTV T thanh toán cho bà Nguyễn Thị Thanh N một phần lương tháng 6.2018 là 2.904.000 đồng; đóng bảo hiểm xã hội cho bà Nguyễn Thị Thanh N thời gian từ tháng 11.2016 đến tháng 6.2018 với số tiền 19.827.624 đồng (trong đó gốc là 17.920.260 đồng và lãi là 1.907.364 đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp về lao động giữa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh N và Công ty TNHH MTV T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng theo quy định tại khoản 1 Điều 32, điểm c khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải: Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu đã mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định tại các Điều 208, 209, 210 và 211 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không xuất trình thêm chứng cứ mới.

Bị đơn Công ty TNHH MTV T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhưng trong quá trình giải quyết cũng như tại phiên tòa Công ty TNHH MTV T vắng mặt không có lý do. Người làm chứng Lê Thị Kiều Ch vắng mặt nhưng đã gửi lời khai cho Tòa án và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 229 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt Công ty TNHH MTV T và bà Lê Thị Kiều Ch.

Về nội dung tranh chấp:

Đối với tranh chấp đòi tiền lƣơng: Bà Nguyễn Thị Thanh N yêu cầu Công ty TNHH MTV T thanh toán phần còn lại lương tháng 6/2018 là 2.904.000 đồng.

HĐXX xét thấy, theo Bảng tổng hợp tiền lương thưởng và các khoản phụ cấp tháng 06/2018 do ông Kim Sangb – Chức vụ: Giám đốc ký thì lương bà Nguyễn Thị Thanh N là 5.204.224 đồng. Công ty TNHH MTV T đã chuyển khoản lần 01 vào ngày 10.7.2018 là 1.600.000 đồng và chuyển khoản lần 02 vào ngày 03.8.2018 là 700.000 đồng. Như vậy, số tiền lương tháng 6.2018 còn lại Công ty TNHH MTV T chưa thanh toán là: 5.204.224 đồng – (1.600.000 đồng + 700.000 đồng) = 2.904.000 đồng.

HĐXX xét thấy, việc Công ty TNHH MTV T không thanh toán đủ lương là vi phạm Điều 3 Hợp đồng lao động số 158/2017/HĐLĐ-L2 ngày 19.09.2017. Do đó, bà N khởi kiện, yêu cầu Công ty TNHH MTV T thanh toán phần còn lại của lương tháng 6.2018 với số tiền 2.904.000 đồng là có cơ sở.

Đối với tranh chấp đòi tiền bảo hiểm xã hội: Trong thời gian từ tháng 11/2016 đến tháng 6/2018 Công ty TNHH MTV T không thực hiện đóng BHXH nên bà Nguyễn Thị Thanh N yêu cầu Công ty đóng tiền BHXH còn nợ là 19.827.624 đồng (trong đó gốc là 17.920.260 đồng và lãi là 1.907.364 đồng) cho bà.

HĐXX xét thấy Hợp đồng lao động số 465/HĐ/2016 ngày 19.09.2016 và Hợp đồng lao động số 158/2017/HĐLĐ-L2 ngày 19.09.2017 là hợp đồng có thời hạn 01 năm. Theo quy định khoản 1 Điều 186 Bộ luật Lao động, Điều 2 và khoản 2 Điều 21 Luật Bảo hiểm xã hội thì người sử dụng lao động, người lao động phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc; hằng tháng người sử dụng lao động có trách nhiệm trích tiền lương của người lao động để đóng cùng một lúc vào quỹ bảo hiểm xã hội. Việc Công ty TNHH MTV T không thực hiện đóng bảo hiểm xã hội từ tháng 11.2016 đến tháng 6.2018 cho bà N là trái quy định của pháp luật nên cần phải buộc Công ty thực hiện đóng bảo hiểm xã hội với số tiền gốc là 17.920.260 đồng. Do Công ty TNHH MTV T chậm đóng BHXH nên phải chịu lãi chậm đóng theo quy định của Bảo hiểm xã hội thành phố Đ, cụ thể: Năm 2017 thực hiện theo Thông báo số 259/TB-BHXH ngày 02.3.2017 Bảo hiểm xã hội thành phố Đ là 15,8%/năm (1,317%/tháng); năm 2018 thực hiện theo Thông báo số 195/TB-BHXH ngày 30.01.2018 của Bảo hiểm xã hội thành phố Đ là 14,5%/năm (1,2084%/tháng). Số lãi chậm đóng mà Công ty phải chịu là 1.907.364 đồng. Như vậy, Công ty TNHH MTV T phải thực hiện đóng tiền BHXH còn nợ cho bà N là: 17.920.260 đồng gốc + 1.907.364 đồng lãi = 19.827.624 đồng.

Do Công ty TNHH MTV T ngừng hoạt động, Bảo hiểm xã hội thành phố Đ không tiếp tục tính lãi chậm đóng BHXH phát sinh từ tháng 8.2018 nên HĐXX không xem xét.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu tại phiên tòa là phù hợp với quy định của pháp luật nên HĐXX chấp nhận.

Án phí lao động sơ thẩm: Công ty TNHH MTV T phải chịu án phí lao động sơ thẩm là (2.904.000 đồng + 19.827.624 đồng) x 3% = 22.731.624 đồng x 3 % = 682.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: - Điều 32, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 229, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 47, Điều 90, Điều 96, Điều 186, Điều 201 của Bộ luật Lao động;

- Điều 17, Điều 18, Điều 19, Điều 21, Điều 85, Điều 86, khoản 2 Điều 89 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận đơn khởi kiện về việc “Tranh chấp đòi tiền lương, tiền bảo hiểm xã hội” của bà Nguyễn Thị Thanh N.

- Buộc Công ty TNHH MTV T có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị Thanh N lương tháng 6.2018 là 2.904.000 đồng.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Buộc Công ty TNHH MTV T có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội cho bà Nguyễn Thị Thanh N tại Bảo hiểm xã hội thành phố Đ trong thời gian từ tháng 11.2016 đến tháng 6.2018 với số tiền 19.827.624 đồng (trong đó gốc là 17.920.260 đồng và lãi là 1.907.364 đồng).

2. Án phí lao động sơ thẩm: Công ty TNHH MTV T phải chịu án phí lao động sơ thẩm là 682.000 đồng.

3. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 06, 07, 07a và 09 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ