- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Võ Tấn Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản". - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố : Bị cáo Võ Tấn Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2019/HSST Ngày: 25-6-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ N VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ-TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tô Thị Thy Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Văn Đích
Ông Nguyễn Văn Đời
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lành- Là thư ký Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà tham gia phiên tòa: Ông Thái Hồng Sơn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 6 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, Tp. Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 48/2019/TLST- HS ngày 22 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2019/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:
Võ Tấn Đ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 29/11/1997 tại tỉnh Quảng Nam; Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Võ Tấn L và bà Lâm Thị Thanh M; Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang tại ngoại theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Bà Phan Thị Trúc Q, Sinh năm: 1993. Nơi cư trú: K 109/20 Đường T, phường T, quận T, Tp Đà Nẵng. Người được ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc L, Sinh năm: 1990. Nơi cư trú: Số 30A Đường L, quận S, Tp Đà Nẵng theo Giấy ủy quyền ngày 21/3/2019. Có đơn xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, N vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Lâm Thiệu N, Sinh năm: 2000. Nơi cư trú: Số 202 Đường V, quận S, Tp Đà Nẵng. Có đơn xét xử vắng mặt.
2. Bà Lâm Thị Thanh M, Sinh năm: 1975. Nơi cư trú: Thôn H, xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 02 giờ 00 phút ngày 16.3.2019, Võ Tấn Đ đi nhậu cùng anh Lâm Thiệu N tại quán nhậu trên đường Phạm Văn Đồng, quận Sơn Trà. Sau khi nhậu xong, cả hai về quán Bé Biển để ngủ. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, Võ Quốc Đ thức dậy và thấy anh N đang còn ngủ nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản và lấy chìa khoá quầy thu ngân mở ngăn kéo lấy số tiền 6.000.000 đồng của quán Bé Biển và bỏ về nhà ở xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam. Đến 09 giờ cùng ngày, anh Lâm Thiệu N thức dậy kiểm tra quầy thu ngân thì phát hiện bị mất số tiền 6.000.000 đồng nên thông báo cho anh Nguyễn Quốc L là chủ nhà hàng. Sau đó, anh Nguyễn Quốc L đến công an phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà để trình báo sự việc.
Sau khi về đến nhà, do lo sợ nên Đạt đã đưa số tiền trộm cắp cho mẹ là Bà Lâm Thị Thanh M để cất giữ và nhờ trả lại cho quán Bé Biển. Ngày 17.3.2019, Bà Lâm Thị Thanh M đưa Võ Tấn Đ đến công an xã Tam Giang để trình báo về việc Đ đã có hàng vi trộm cắp tài sản. Đến ngày 20.3.2019, Võ Tấn Đ đến công an phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà để trình diện và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình.
Tang vật thu giữ:
Số tiền 6.000.000 đồng. (đã được trao trả lại cho bị hại theo Quyết định xử lý vật chứng số: 29 ngày 25.3.2019)
Về phần dân sự: Ông Nguyễn Quốc L là đại diện theo ủy quyền của bị hại đã nhận lại số tiền 6.000.000 đồng, không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Tại bản cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 21/5/2019 của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Võ Tấn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Qua xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa:
Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên tòa phát biểu giữ nguyên cáo trạng đã truy tố bị cáo và căn cứ vào tính chất, hành vi thực hiện tội phạm, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Võ Tấn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của BLHS xử phạt Võ Tấn Đ từ 09 (Chín) tháng đến 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Ông Nguyễn Quốc L đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không đề cập đến.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Sơn Trà đã trả lại tài sản cho bị hại thấy phù hợp với quy định của pháp luật nên không đề cập đến.
Bị cáo bị cáo Võ Tấn Đ thừa nhận hành vi phạm tội của mình lén lút trộm cắp số tiền 6.000.000đồng của nhà hàng Bé Biển do chị Phan Thị Trúc Q đứng tên đại diện hộ kinh doanh. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Sơn Trà khởi tố, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà truy tố, Tòa án nhân dân quận Sơn Trà xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản ” thì bị cáo không có ý kiến gì. Bị cáo thực sự ăn năn, hối cải và hứa sẽ không bao giờ tái phạm nữa, mong HĐXX xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người đại diện theo ủy quyền của bị hại Ông Nguyễn Quốc L vắng mặt tại phiên tòa nhưng tài liệu trong hồ sơ vụ án thể hiện: Ngày 16/3/2019 bị cáo Võ Tấn Đ có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản 6.000.000đồng của nhà hàng Bé Biển do Bà Phan Thị Trúc Q đứng tên hộ kinh doanh. Những tài sản trên ông đã nhận lại đầy đủ, không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.
Người có quyền lợi, N vụ liên quan trong vụ án Bà Lâm Thị Thanh M trình bày: Ngày 16/3/2019 bị cáo Võ Tấn Đ có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản 6.000.000đồng của nhà hàng Bé Biển do Bà Phan Thị Trúc Q đứng tên hộ kinh doanh. Sau đó bị cáo Võ Tấn Đ có đưa số tiền 6.000.000đồng cho bà để trả lại cho nhà hàng Bé Biển. Đối với hành vi phạm tội của bị cáo bà không có ý kiến gì nhưng xin HĐXX xem xét gảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Sơn Trà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo Võ Tấn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo, xét lời khai nhận tội của bị cáo thấy phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án cùng các tài liệu điều tra thu thập đầy đủ có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để xác định: Khoảng 08 giờ ngày 16/3/2019, tại nhà hàng Bé Biển, số 202 đường Võ Nguyên Giáp, phường Phước Mỹ, quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng, bị cáo Võ Tấn Đ đã lén lút trộm cắp số tiền 6.000.000 đồng của nhà hàng Bé Biển do Bà Phan Thị Trúc Q đứng tên đại diện hộ kinh doanh. Hành vi của bị cáo Võ Tấn Đ đã cấu thành tội “ Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 173 của BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, thực hiện với lỗi cố ý, bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội trên địa bàn Tp Đà Nẵng nói chung và địa bàn quận Sơn Trà nói riêng. Tuy nhiên cũng cần xem xét áp dụng các tình tiết quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1, 2 Điều 51 của BLHS để giảm nhẹ cho bị cáo khi quyết định hình phạt do bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo phạm tội gây thiệt hại không lớn, sau khi phạm tội đã ra đầu thú thể hiện sự ăn năn hối cải, bị cáo có ông nội là người có công với cách mạng. Bị cáo Võ Tấn Đ có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên xét thấy chưa cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà căn cứ Điều 65 của Bộ luật hình sự cho các bị cáo được hưởng án treo, giao bị cáo cho UBND nơi bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên toà người đại diện theo ủy quyền của bị hại Ông Nguyễn Quốc L vắng mặt nhưng thể hiện trong hồ sơ vụ án đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Sơn Trà đã trả lại số tiền 6.000.000 đồng cho Ông Nguyễn Quốc L là người đại diện theo ủy quyền của bị hại, HĐXX thấy phù hợp pháp luật nên không đề cập đến.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà về áp dụng điều luật, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, về trách nhiệm dân sự cũng như xử lý vật chứng là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Án phí HSST bị cáo Võ Tấn Đ phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố : Bị cáo Võ Tấn Đ phạm tội "Trộm cắp tài sản".
Căn cứ Khoản 1, Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Võ Tấn Đ 09 (Chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 25/6/2019.
Giao bị cáo Võ Tấn Đ cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện N, tỉnh Quảng Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
Về hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách của án treo: Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về án phí: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Án phí HSST bị cáo Võ Tấn Đ phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Báo cho những người tham gia tố tụng biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng những người vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết tại nơi thường trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - VKSND q. Sơn Trà, Tp Đà Nẵng; - VKSND Thành phố Đà Nẵng; - Chi cục THADS q. Sơn Trà, Tp Đà Nẵng; - Công an quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng; - Trại tạm giam Hòa Sơn, Công an TP Đà Nẵng; - Lưu hồ sơ vụ án. . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa TÔ THỊ THY TUYẾT |