vanban.org

Bản án 50/2019/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Nhà Bè, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 29/10/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.

Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Văn Ng phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo b… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Ngh phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHÀ BÈ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2019/HS-ST
Ngày 29/10/2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ Ng VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHÀ BÈ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Thúy.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Dương Quốc Trung

2. Bà Trần Thanh Trúc

- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Hoàng Trung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Ông Đào Minh Nguyên - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 68/2019/TLST-HS ngày 30 tháng 9 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 322/QĐXXST-HS ngày 16/10/2019, đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần Văn Ng, sinh năm 1993 tại tỉnh Long An; Nơi cư trú: Tổ n, ấp m, xã H, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 6/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Trần Văn Ph và bà Nguyễn Thị Đ; Có vợ là Huỳnh Thùy D và có 01 con sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 01/7/2019, bị Công an xã Phước z, huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An ra Quyết định xử phạt hành chính 1.500.000đ về hành vi trộm cắp tài sản; Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 22/7/2019 đến nay (có mặt).

Người bị hại: Anh Phạm Hoài B; Nơi cư trú: 315/13B Tổ n, ấp s, xã H, huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ ngày 20 tháng 7 năm 2019, Trần Văn Ng điều khiển xe mô tô biển số 59D1-71928 đi tìm tài sản sơ hở để trộm cắp. Khi đi đến đường hẻm thuộc tổ n, ấp s, xã H, huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh, Ng phát hiện tại ao nuôi tôm số nhà M có máy mô tơ sử dụng quay trục quạt ô xy đầm tôm nên dựng xe ngoài đường hẻm rồi đi bộ vào để trộm cắp. Khi đến vị trí đặt máy mô tơ, Ng dùng cờ lê mang theo để tháo rồi bê mô tơ vừa tháo ra để lên baga phía trước của xe mô tô chở đi tìm nơi tiêu thụ. Trên đường đi Ng thấy 01 cái giỏ trên đường nên dừng xe lại lấy đựng tài sản vừa trộm để tránh bị phát hiện. Khi đi đến thị trấn Cần Giuộc, huyện Cần Giuộc thì bị Công an huyện Cần Giuộc phát hiện bắt giữ giao cho Công an xã Hiệp Phước, huyện Nhà Bè.

Bản kết luận định giá tài sản ngày 22 tháng 7 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: 01 cái mô tơ bằng kim loại, nặng khoảng 28 kg, loại máy sử dụng để quay trục quạt đầm tôm trị giá 2.000.000đ

Tại bản Cáo trạng số 56/CT-VKS-NB ngày 27/9/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh, truy tố bị cáo Trần Văn Ng về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát thực hành quyền công tố giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h,i,s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Văn Ng mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 thàng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về dân sự: Miễn xét

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 biển số xe 59D1-71928, 01 con dao bằng kim loại màu trắng dài 21cm, 04 cờ lê bằng kim loại (13, 14 và 02 cái 17), 01 tuốc nơ vít, 01 giỏ nhựa. Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Sport số máy F125 –TD603039, số khung MHDBF13BLWJ603746.

Bị cáo nhận tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mà không có ý kiến tranh luận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nhà Bè, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhà Bè, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố Tụng hình sự. Bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản Cáo trạng truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra, lời khai người bị hại. Phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có tại hồ sơ được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Hồi 23h30’ ngày 20/7/2019, tại ao nuôi tôm số nhà 315/13B, Tổ n, ấp s, xã H,, huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh, Trần Văn Ng đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 mô tơ bằng kim lọai, loại máy sử dụng để quay trục quạt đầm tôm, trị giá 2.000.000đ của anh Phạm Hoài B. Sau khi lấy trộm bị cáo mang đi tiêu thụ, trên đường đi thì bị phát hiện bắt giữ. Hành vi của bị cáo Trần Văn Ng đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Xét tính chất vụ án và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tội phạm thuộc loại ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác; gây mất trật tự trị an trên địa bàn huyện Nhà Bè nói riêng và an toàn xã hội nói chung, nên cần xử phạt nghiêm. Ngoài hành vi phạm tội này bị cáo còn thực hiện 01 hành vi trộm cắp vào ngày 01/7/2019 nhưng do tài sản trộm cắp dưới 2.000.000đ nên đã bị xử phạt hành chính. Điều đó thể hiện thái độ coi thường pháp luật. Vì vậy, việc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết nhằm giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo vì phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa khai báo thành khẩn. Hành vi của bị cáo gây thiệt hại không lớn.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa người bị hại vắng mặt nhưng quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu hồi tài sản trả lại cho người bị hại, người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự, nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Về xử lý vật chứng: 01 con dao bằng kim loại màu trắng dài 21cm, 04 cờ lê bằng kim loại (13, 14 và 02 cái 17), 01 tuốc nơ vít, 01 giỏ nhựa là công cụ phạm tội, 01 biển số xe 59D1-71928 hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Sport bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, bị cáo đã tháo biển số vứt, qua kiểm tra số khung, số máy nguyên thủy không xác định được nhưng hiện có số khung, số máy được đục lại thành số máy F125 – TD603039, số khung MHDBF13BLWJ603746.

Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn Ng 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giam 22/7/2019.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 biển số xe 59D1-71928, 01 con dao bằng kim loại màu trắng dài 21cm, 04 cờ lê bằng kim loại (trên cờ lê ghi số 13, 14 và 02 cái 17), 01 tuốc nơ vít, 01 giỏ nhựa. Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 01 xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Sport số máy F125 –TD603039, số khung MHDBF13BLWJ603746.

Về án phí: Căn cứ Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Văn Ng phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ