- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngô Văn Hoàng - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngô Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2019/HS-ST Ngày 15- 7 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phan Thị Ngọc Loan
Bà Nguyễn Kim Phụng
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đào Thị Lệ Thy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Võ Tới - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện N, tỉnh Bình Phước đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 59/2019/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2019/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:
Ngô Văn H, sinh năm: 1980, tại Bình Phước. Hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Ấp Việt Quang, xã Q, huyện N, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 0/12; Cha: Ngô Văn S (đã chết); Mẹ: Vũ Thị C, sinh năm 1957 (còn sống); Bị cáo có 04 anh em, lớn nhất là bị cáo và nhỏ nhất sinh năm 1986; Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1987; Bị cáo có 01 người con sinh năm 2016. Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 29/01/2016, bị tòa án nhân dân huyện N xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng theo bản án số: 09/2016/HSST ngày 29/01/2016 của Tòa án nhân dân huyện N về tội “Trộm cắp tài sản”.
Ngày 22/01/2018 bị Tòa án nhân dân huyện N xử phạt tổng hợp hình phạt của 02 bản án là 21 tháng tù giam theo bản án số: 04/2018/HSST ngày 22/01/2018 về tội “Trộm cắp tài sản” đến ngày 31/01/2019 chấp hành xong hình phạt, đến nay chưa được xóa án tích.
Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện N từ ngày 26/3/2019 đến nay.
- 1 -
Bị cáo có mặt tại phiên tòa
* Bị hại:
Anh Lê Quang T, sinh năm 1974
Nơi cư trú: Ấp Việt Quang, xã Q, huyện N, tỉnh Bình Phước.
Vắng mặt tại phiên toà
Người làm chứng:
Anh Phan Văn P, sinh năm 1983
Nơi cư trú: Ấp Việt Quang, xã Q, huyện N, tỉnh Bình Phước.
Vắng mặt tại phiên toà
Người có quyền lợi liên quan:
Anh Ngô Quang C, sinh năm 1982
Nơi cư trú: Ấp Việt Quang, xã Q, huyện N, tỉnh Bình Phước.
Vắng mặt tại phiên toà
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bình Phước truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng 07 giờ ngày 25/3/2019, Ngô Văn H điều khiển xe mô tô hiệu Sirius, màu đen, biển số: 93T4-6584 từ nhà nghỉ B thuộc xã L, thị xã BL, tỉnh Bình Phước về ngã tư Con Nai thuộc ấp Bồn Xăng, xã Q, huyện N để uống nước. Tại đây H thấy có một nhóm người đang chuẩn bị đá gà nên H chạy theo. Lúc này có một người thanh niên tên T1 (không rõ nhân thân lai lịch) mà H quen trước đây xin đi nhờ xe để coi đá gà thì H đồng ý, đi được một đoạn thì bị lạc với nhóm đá gà nên cả hai quay về. Khi chạy xe ngang nhà anh Lê Quang T, sinh năm 1974, ngụ tại: Ấp Việt Quang, xã Q, huyện N thì H thấy bên hông nhà anh T dựng 01 (một) xe mô tô hiệu Wave màu xanh, đen, biển số: 93F1-023.97 không có người trông coi nên H nảy sinh ý định chiếm đoạt để bán lấy tiền tiêu xài. H kêu T1 chạy xe vào trong sân nhà anh T. Sau đó, H dùng tua vít và đoản phá khóa để sẵn trong cốp xe lấy ra bẻ khóa xe mô tô rồi nổ máy xe chạy ra hướng xã Q, còn T1 chạy xe của H đi trước. Khi H chạy xe ra được khoảng 2km thì gặp anh T và anh Phan Văn P, sinh năm 1983, ngụ tại: Ấp Việt Quang, xã Q, huyện N chạy ngược chiều. Phát hiện H điều khiển xe của mình nên anh T cùng P quay lại đuổi theo và chặn H lại. H trả lại xe cho T rồi đi nhờ xe của một người lạ ra ngã tư Con Nai. Tại đây, H gặp T1 và lấy xe của mình rồi chạy về nhà trọ B. Sau khi lấy lại tài sản, anh Lê Quang T đến trình báo sự việc với Công an xã Q.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu xanh, đen, biển số: 93F1- 023.97; 01 (một) mô tô hiệu Sirius, màu đen, biển số: 93T4-6584; 01 (một) ổ khóa xe của xe mô tô biển số: 93F1- 023.97 đã bị hư hỏng.
Tại cơ quan điều tra, Ngô Văn H đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
- 2 -
Căn cứ Kết luận định giá tài sản số: 09/03/2019/KL-HĐĐGTS ngày 26/03/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện N, kết luận 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, màu xanh, đen, biển số: 93F1-023.97 có giá trị là 7.000.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 56/CT-VKSLN, ngày 20/6/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Ngô Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện N ra quyết định xử lý vật chứng trả 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu xanh, đen, biển số: 93F1- 023.97 cho anh Lê Quang T là chủ sở hữu. Đối với 01 (một) mô tô hiệu Sirius, màu đen, biển số: 93T4-6584 thuộc sở hữu của anh Ngô Văn C, anh C cho H mượn nhưng không biết H sử dụng xe mô tô trên để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã xử lý vật chứng trả lại xe cho anh C.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Ngô Văn C là em ruột của bị cáo đã tự nguyện bồi thường số tiền 680.000 đồng cho anh Lê Quang T nên anh T không có yêu cầu bồi thường gì khác,
Về vật chứng vụ án: Đối với 01 ổ khóa bị hỏng là tài sản của anh T, anh T không yêu cầu trả lại ổ khóa nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Đối với người thanh niên tên T1 cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với H, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch Cơ quan C sát điều tra đang tiến hành xác minh, khi nào xác định được sẽ xử lý sau.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã
- 3 -
thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà xét xử công khai hôm nay, bị cáo đã hoàn toàn thú nhận hành vi phạm tội của mình gây ra, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, phù hợp với kết luận điều tra, cáo trạng và kết luận của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa nên có đủ cơ sở để khẳng định: Vào khoảng 09 giờ, ngày 25/3/2019, tại nhà của anh Lê Quang T, ngụ tại: ấp Việt Quang, xã Q, huyện N, tỉnh Bình Phước. Ngô Văn H đã lén lút trộm cắp 01 xe Honda Wave RSX, màu xanh, đen , biển số: 93F1-023.97 của anh T giá trị là 7.000.000 đồng.
Hành vi của bị cáo là liều lĩnh, xem thường pháp luật, ảnh hưởng đến trật tự xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của cá nhân được luật pháp bảo vệ. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình. Bị cáo nhận thức được trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật và bị pháp luật nghiêm trị. Song do lười biếng lao động, không lo tu chí làm ăn, muốn có tiền để tiêu xài nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội.
Ngày 23/5/2016, bị cáo bị Công an huyện N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, đã được xóa tiền sự.
Ngày 290/1/2016, bị tòa án nhân dân huyện N xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng theo bản án số: 09/2016/HSST ngày 29/1/2016 của Tòa án nhân dân huyện N về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo còn chưa chấp hành xong thời gian thử thách thì đến ngày 22/01/2018, bị Tòa án nhân dân huyện N xử phạt tổng hợp hình phạt 02 bản án là 21 tháng tù giam theo bản án số: 04/2018/HSST ngày 22/01/2018 về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 31/01/2019 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích. Tại bản án số 04/2018/HSST không xác định bị cáo tái phạm vì giá trị tài sản chưa đủ định lượng nhưng là căn cứ định tội bị cáo.
Đến ngày 25/3/2019, bị cáo lại tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu thêm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh truy tố bị cáo về tội“Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Bị cáo không lấy các bản án trước làm bài học cho bản thân mà lại liên tục phạm tội chứng tỏ bị cáo rất
- 4 -
coi thường pháp luật. Hội đồng xét xử cần xử phạt thật nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục bị cáo thành người công dân có ích cho xã hội và để phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, tài sản thu hồi trả lại cho bị hại, bị cáo tác động gia đình bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại. Bị hại có đơn bãi nại cho bị cáo, bản thân bị cáo không có trình độ văn hóa nên am hiểu pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại vắng mặt nhưng tại cơ quan điều tra bị hại không có yêu cầu gì nên trách nhiệm dân sự không đặt ra.
Anh Ngô Văn C là em ruột của bị cáo H đã bồi thường số tiền 680.000 đồng cho anh Lê Quang T, Tại phiên tòa anh C vắng mặt nhưng tại cơ quan điều tra anh C không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền mà anh C đã bồi thường thay cho bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Đối với 01 ổ khóa bị hỏng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Ngô Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1) Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Xử phạt bị cáo Ngô văn H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tính tù từ ngày bắt tạm giam bị cáo ngày 26/3/2019 và tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
2) Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra
3) Về vật chứng vụ án:Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 ổ khóa xe bị hư hỏng.
Số tang vật trên hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện N đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng số 0006635 ngày 11/7/2019
4) Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, Bị hại, Người có quyền lợi liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng
- 5 -
cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại chính quyền địa phương nơi cư trú lên Toà án nhân dân tỉnh Bình Phước để xét xử theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước - VKS huyện N - Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi liên quan - Chi cục THADS huyện N - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước - CA huyện N - CA tỉnh Bình Phước - Lưu hồ sơ vụ án - 6 - | T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Văn Hùng |