vanban.org

Bản án 50/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.

Về con chung: Ông Nguyễn Ngọc T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là Nguyễn Đình P - sinh ngày 06/6/2010 và Nguyễn Đình Khánh A - sinh ngày 03/01/2014. Ông T không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung. Bà H có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2019/HNGĐ-ST
Ngày 25-9-2019
V/v “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ N - TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Tẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Ái Vy

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Văn Lưỡng;

2. Ông Nguyễn Lơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Hồng Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Triệu Hoàng Hùng - Kiểm sát viên

Ngày 25 tháng 9 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã N xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 238/2019/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2019/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2019 và Thông báo về việc dời ngày xét xử ngày 18 tháng 9 năm 2019, giữa:

1. Nguyên đơn: Bà Tạ Thị Hồng H - sinh năm 1983

Địa chỉ: Thôn A - xã S - thị xã N - Khánh Hòa.

Có mặt tại phiên tòa.

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc T - sinh năm 1984

Địa chỉ: Thôn Đ - xã P - thị xã N - Khánh Hòa.

Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn ngày 17/6/2019, bản tự khai ngày 05/7/2019 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Tạ Thị Hồng H trình bày: Bà và ông Nguyễn Ngọc T tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thị xã N năm 2009. Thời gian đầu vợ chồng sống có hạnh phúc nhưng đến năm 2019 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do ông T hay ghen tuông vô cớ, về nhà gây sự đánh đập bà nhiều lần và dùng những lời lẽ không hay xúc phạm đến bà, gia đình bà. Ông T còn đăng tin trên mạng xã hội để sỉ nhục bà làm bà luôn chịu áp lực về thể chất lẫn tinh thần, không khí gia đình ngày càng căng thẳng, tình cảm vợ chồng ngày một xa cách. Hiện tại vợ chồng không còn chung sống với nhau từ tháng 06/2019 và không thể nào hàn gắn nên bà yêu cầu được ly hôn với ông T. Về con chung: vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Đình P - sinh ngày 06/6/2010 và Nguyễn Đình Khánh A - sinh ngày 03/01/2014, bà H giao 02 con chung cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng và không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết; nợ chung không có.

Tại bản tự khai ngày 05/8/2019 bị đơn ông Nguyễn Ngọc T trình bày: Tời gian, điều kiện kết hôn đúng như bà H trình bày. Quá trình chung sống vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2019 bắt đầu xảy ra mâu thuẫn do ông phát hiện bà H có mối quan hệ bất chính với người khác, ông đã nhiều lần yêu cầu bà H làm rõ sự việc nhưng bà H cứ tránh né dẫn đến vợ chồng kình cãi, to tiếng với nhau. Vào tháng 06/2019 ông thừa nhận khi cãi nhau có dùng tay đánh vào mặt bà H , từ đó bà H về gia đình cha mẹ ruột sống, rất nhiều lần ông đến năn nỉ bà H bỏ qua để quay về chung sống nhưng bà H không đồng ý. Nay bà H yêu cầu ly hôn ông không đồng ý vì ông vẫn còn tình cảm với vợ con. Về con chung, nếu phải ly hôn thì ông đồng ý nuôi 02 con chung là Nguyễn Đình P - sinh ngày 06/6/2010 và Nguyễn Đình Khánh A - sinh ngày 03/01/2014, không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết, nợ chung không có.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng nguyên đơn đều thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; riêng bị đơn ông T không chấp hành theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Bị đơn ông Nguyễn Ngọc T tự ý bỏ về trước phần tranh tụng tại phiên tòa nên đề nghị Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt ông T theo quy đinh tại khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Xét thấy quan hệ hôn nhân của bà H và ông T đã mâu thuẫn trầm trọng nên đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Bà H được ly hôn ông T theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Đề nghị giao 02 con chung Nguyễn Đình P - sinh ngày 06/6/2010 và Nguyễn Đình Khánh A - sinh ngày 03/01/2014 cho ông T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Ông T không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: bà H không yêu cầu nên đề nghị không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Ngọc T có mặt tại phiên tòa nhưng tự ý bỏ về trước phần tranh tụng không có lý do nên căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông T.

Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình giữa bà Tạ Thị Hồng H và ông Nguyễn Ngọc T thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã N, tỉnh Khánh Hòa theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Tạ Thị Hồng H và ông Nguyễn Ngọc T tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, thị xã N (giấy chứng nhận kết hôn số 12, quyển số 01 ngày 04/3/2009), đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống với nhau giữa bà H và ông T đã phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung, thiếu niềm tin lẫn nhau. Ông T xúc phạm, bạo hành với vợ làm ảnh hưởng lớn đến tình cảm dẫn đến bà H và ông T đã không còn sống chung với nhau. Ông T đã tự ý bỏ về không có lí do, điều đó chứng tỏ ông từ bỏ quyền của mình và không có thiện chí hàn gắn lại tình cảm vợ chồng. Tại phiên tòa, bà H vẫn cương quyết yêu cầu xin được ly hôn với ông T vì tình cảm không còn. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà H và ông T đã thực sự trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H là hoàn toàn phù hợp.

Về con chung: Bà H và ông T có 02 con chung là Nguyễn Đình P - sinh ngày 06/6/2010 và Nguyễn Đình Khánh A - sinh ngày 03/01/2014. Bà H tự nguyện giao 02 con chung cho ông T trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Hiện tại 02 cháu P, A đang sống với ông T và nguyện vọng của cháu P muốn được sống với bố. Do đó, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cũng như sự phát triển toàn diện và cuộc sống ổn định cho 02 cháu, Hội đồng xét xử xét giao 02 cháu P, A cho ông T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, ông T không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung và xác định không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bà H phải chịu án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét về quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã N là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Bà Tạ Thị Hồng H được ly hôn ông Nguyễn Ngọc T.

2. Về con chung: Ông Nguyễn Ngọc T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 02 con chung là Nguyễn Đình P - sinh ngày 06/6/2010 và Nguyễn Đình Khánh A - sinh ngày 03/01/2014. Ông T không yêu cầu bà H cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà H có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.

Vì lợi ích của con chung, khi cần thiết các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về án phí: Bà Tạ Thị Hồng H phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà bà H đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2018/0009046 ngày 24/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã N. Bà H đã nộp đủ án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Quy định: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thii hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc hoặc tống đạt hợp lệ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ