vanban.org

Bản án 50/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh S; anh S được ly hôn với chị A.

2- Về con chung: Giao T, sinh ngày 28/9/2011 cho chị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Trường hợp chị A vi phạm nghĩa vụ nuôi con hoặc không còn đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con thì anh S có quyền yêu cầu th…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? 1- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh S; anh S được ly hôn với chị A.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH KIÊN GIANG
Bản án số: 50/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 18-10-2019
Về việc ly hôn và tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THUẬN, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Trường Hận.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đào Hoàng Khương.

2. Bà Phan Thị Cẩm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Quảng Thị Kiều Diễm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Tuyết Trang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thuận, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 70/2019/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2019 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 91/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/9/2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2019/QĐST-HNGĐ ngày 25/9/2019, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh S, sinh năm 1987; địa chỉ: ấp C, xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin vắng mặt).

2. Bị đơn: Chị A, sinh năm 1992; địa chỉ: ấp 1, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang (vắng mặt lần 02 không lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh S trình bày: Anh chị cưới nhau và đăng ký kết hôn vào ngày 09/6/2011 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Hai năm đầu sống rất hạnh phúc nhưng từ năm 2013 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải, mâu thuẫn kéo dài ngày càng trầm trọng. Từ đó, chị A về nhà cha mẹ ruột sinh sống (ấp 1, xã T, huyện T, tỉnh Kiên Giang) và ly thân từ năm 2013 đến nay. Hiện nay tình cảm không còn, không thể hàn gắn được nữa nên anh S yêu cầu được ly hôn với chị A.

Anh chị có một người con chung là T, sinh ngày 28/9/2011, giới tính nam, đang sống chung với chị A; con có nguyện vọng sống chung với ai thì người đó nuôi, bên còn lại không cần cấp dưỡng.

* Bị đơn là chị A vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án nên không có lời trình bày.

* Đại diện Viện Kiểm sát phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai nhưng đều vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt là đúng quy định tại Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh S; đồng thời giao cháu T cho chị A nuôi dưỡng theo nguyện vọng của cháu T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Anh S có yêu cầu ly hôn nên Tòa án thụ lý đơn giải quyết theo khoản 1 Điều 53 của Luật hôn nhân và gia đình. Anh S có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với chị A nhưng chị A vắng mặt phiên tòa lần thứ hai không có lý do chính đáng, không vì sự kiện bất khả kháng nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt đối với bị đơn là chị A.

Anh S yêu cầu được ly hôn với chị A và yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung, không yêu cầu giải quyết các vấn đề khác nên xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”.

Về nội dung vụ án: Năm 2011 anh S và chị A cưới nhau và thực hiện đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, anh chị xảy ra mâu thuẫn; theo anh S trình bày là do cuộc sống không hợp nhau, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải và sống ly thân từ năm 2013 cho đến nay. Chị A là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không lý do. Việc chị A cố tình vắng mặt là đã tự đánh mất cơ hội được hàn gắn và trình bày ý kiến để được xem xét.

Xét thấy, mâu thuẫn giữa chị A và anh S đã kéo dài, cuộc sống không hạnh phúc; anh chị không sống chung với nhau từ năm 2013 đến nay; mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh S.

Về con chung: Anh S trình bày anh và chị A có một người con chung là T, sinh ngày 28/9/2011, giới tính nam, đang sống chung với chị A. Cháu T có nguyện vọng sống chung với chị A; anh S thống nhất giao cháu T cho chị A nuôi dưỡng.

Xét thấy, cháu T đã trên 07 tuổi, có nguyện vọng sống chung với chị A, từ nhỏ cháu T đã được chị A chăm sóc tốt, chị A đủ điều kiện chăm lo cho cháu T, anh S cũng đồng ý giao cháu T cho chị A nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất giao cháu T cho chị A tiếp tục nuôi dưỡng. Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Trường hợp chị A vi phạm nghĩa vụ nuôi con hoặc không còn đủ điều kiện nuôi con thì anh S có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định tại Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng khi ly hôn: Anh chị không ai yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản và nợ chung: Anh S trình bày không có tài sản và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết; chị A không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xét; nếu phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết trong vụ án khác.

[6] Về án phí sơ thẩm: Anh S là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 6, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Điều 147, 207, 227, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 6, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh S; anh S được ly hôn với chị A.

2- Về con chung: Giao T, sinh ngày 28/9/2011 cho chị A trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh S có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở. Trường hợp chị A vi phạm nghĩa vụ nuôi con hoặc không còn đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con thì anh S có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con.

3- Án phí sơ thẩm: Anh S chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình; được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000057 ngày 25/3/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thuận.

4- Quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ