vanban.org

Bản án 50/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Triều T được ly hôn với anh Huỳnh Ngọc Lưu K.

Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Giao cháu Huỳnh Nguyễn Nhật N sinh ngày 01/11/2005 cho chị Nguyễn Thị Triều T được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vụ án HNGĐ giữa Nguyễn Thị Triều T và Huỳnh Ngọc Lưu K"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Triều T được ly hôn với anh Huỳnh Ngọc Lưu K.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 15/10/2019
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoài Tâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Nguyễn Thị Hạnh

2/ Ông Võ Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ – Thư ký Toà án nhân dân huyện C.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Bà Trƣơng Thị Dung – Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 10 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 102/2019/TLST-HNGĐ ngày 27/6/2019 về việc: “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2019/QĐST-HNGĐ ngày 09/9/2019, Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2019/QĐST-HNGĐ ngày 26/9/2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Triều T - Sinh năm: 1983

Địa chỉ: thôn C, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. (Có mặt tại phiên toà)

2. Bị đơn: Anh Huỳnh Ngọc Lƣu K - Sinh năm: 1979

Địa chỉ: thôn C, xã C, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN :

Trong đơn khởi kiện đề ngày 17/6/2019, bản tự khai ngày 17/7/2019 và tại phiên tòa nguyên đơn Nguyễn Thị Triều T trình bày:

Về yêu cầu ly hôn: Chị Nguyễn Thị Triều T và anh Huỳnh Ngọc Lưu K sống chung với nhau từ năm 2004, nhưng đến năm 2006 mới đăng ký kết hôn và được UBND xã C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 30/2006 quyển số 01 ngày 21/3/2006.

Quá trình chung sống: Vào năm 2014, anh K bị tai nạn xe máy nên tính tình thay đổi, không làm chủ được bản thân, thường xuyên gây sự kình cãi, đánh chị T. Chị T đã nhiều lần khuyên giải nhưng anh K vẫn không thay đổi. Đến tháng 02/2018, chị T đưa con về nhà cha mẹ ruột sinh sống. Chị T và anh K đã sống ly thân nhau từ tháng 02/2018 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn đã quá trầm trọng, vợ chồng không thể hàn gắn để tiếp tục chung sống cùng nhau được nên chị T yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Huỳnh Ngọc Lưu K.

Về yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Chị T và anh K có 01 con chung là cháu Huỳnh Nguyễn Nhật N sinh ngày 01/11/2005. Hiện nay, cháu N đang ở với chị T, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cháu N và không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con.

Về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát có ý kiến như sau:

- Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn Nguyễn Thị Triều T đã chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Bị đơn Huỳnh Ngọc Lưu K không chấp hành các quy định của pháp luật về tố tụng, đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm.

- Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp lý nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc ly hôn cũng như về việc nuôi con, cấp dưỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định:

[1] Về tố tụng:

Ngày 17/6/2019, chị Nguyễn Thị Triều T có đơn khởi kiện tại Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Huỳnh Ngọc Lưu K, đây là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Vì vậy, Tòa án nhân dân huyện C đã thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điều 35; Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, bị đơn Huỳnh Ngọc Lưu K đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về yêu cầu ly hôn: Chị Nguyễn Thị Triều T và anh Huỳnh Ngọc Lưu K tự nguyện kết hôn với nhau năm 2006 và được UBND xã C cấp giấy chứng nhận kết hôn số 30/2006 quyển số 01 ngày 21/3/2006, đây là hôn nhân hợp pháp. Từ năm 2014 đến nay giữa chị T và anh K đã xảy ra mâu thuẫn với nhau. Nguyên nhân là do anh K thường gây sự kình cãi và đánh chị T. Chị T và anh K đã sống ly thân nhau từ tháng 02/2018 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Tòa án đã triệu tập nhiều lần để hòa giải nhưng anh K vẫn cố tình vắng mặt, cho thấy thái độ bất cần, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng của anh K. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị T và anh K đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Triều T là có căn cứ.

[3] Về yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Chị T và anh K có 01 con chung là cháu Huỳnh Nguyễn Nhật N sinh ngày 01/11/2005. Hội đồng xét xử xét thấy, hiện nay cháu N đang ở cùng với chị T và cháu N có nguyện vọng ở với mẹ. Vì vậy, để đảm bảo cho việc nuôi dưỡng, chăm sóc và phát triển thể chất của cháu N nên chấp nhận yêu cầu của chị T, giao cháu N cho chị T nuôi dưỡng, giáo dục.

Chị T không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con nên không xét.

[4] Về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Chị Nguyễn Thị Triều T không yêu cầu giải quyết nên không xét.

[5] Về án phí: Chị Nguyễn Thị Triều T phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Triều T được ly hôn với anh Huỳnh Ngọc Lưu K.

2. Về nuôi con và cấp dưỡng nuôi con:

- Giao cháu Huỳnh Nguyễn Nhật N sinh ngày 01/11/2005 cho chị Nguyễn Thị Triều T được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Triều T không yêu cầu nên không xét.

Vì lợi ích của con, khi cần thiết các bên có quyền làm đơn yêu cầu thay đổi việc nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này.

3. Về yêu cầu chia tài sản chung khi ly hôn: Chị Nguyễn Thị Triều T không yêu cầu giải quyết nên không xét.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Triều T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số AA/2018/0007680 ngày 26/6/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện C; chị Nguyễn Thị Triều T đã nộp đủ tiền án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

5. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

6. Quy định: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ