vanban.org

Bản án 50/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Phan Thị Kiều H.

Chị Phan Thị Kiều H được ly hôn với anh Nguyễn Thành N. Về con chung: Chị Phan Thị Kiều H được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Phan Gia Bảo, sinh ngày: 01/12/2018. Anh Nguyễn Thành N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Phan Thị Kiều H hằng tháng số tiền là 695.000 đồng (Sáu trăm c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phan Thị Kiều Hoa - Nguyễn Thành Nhân"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Phan Thị Kiều H.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 107 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH ĐẠI – TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2019/HNGĐ-ST
Ngày: 24 - 5 -2019
V/v tranh chấp: “Ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH ĐẠI, TỈNH BẾN TRE

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Tính

Ông Võ Minh Quang

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Phi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà:

Bà Phạm Thị Cẩm Vân - Kiểm sát viên

Ngày 24 tháng 5 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 161/2019/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2019 về tranh chấp hôn nhân và gia đình: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 74/2019/QĐXXST - HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2019, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Phan Thị Kiều H, sinh năm: 1999 (Có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã Đ, huyện B, tỉnh T.

- Bị đơn: Nguyễn Thành N, sinh năm: 1994 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp 4 C, xã B, huyện Đ, tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Tại đơn xin ly hôn đề ngày 19/02/2019, bản tự khai ngày 18/4/2019 và tại phiên Tòa sơ thẩm hôm nay, nguyên đơn chị Phan Thị Kiều H trình bày:

Chị và anh Nguyễn Thành N kết hôn năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Thới, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre. Quá trình chung sống thời gian đầu có hạnh phúc đến tháng 4 năm 2018 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm chị nói anh N không nghe, anh N chỉ nghe lời mẹ chồng và sống bên chồng mẹ chồng khó khăn với chị. Chị và anh N ly thân từ tháng 4 năm 2018 đến nay, mỗi người sống riêng. Quá trình chung sống chị và anh N có với nhau 01 con chung tên Nguyễn Phan Gia B, sinh ngày: 01/12/2018. Tài sản chung và nợ chung: Không có.

Chị Phan Thị Kiều H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Về quan hệ hôn nhân: Được ly hôn với anh Nguyễn Thành N.

- Về con chung: Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con định kỳ hằng tháng là 1.000.000 đồng.

- Tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên Tòa sơ thẩm hôm nay, chị H thay đổi yêu cầu khởi kiện về mức cấp dưỡng nuôi con chung. Chị yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung định kỳ hằng tháng theo quy định của pháp luật là ½ mức lương tối thiểu 1.390.000 đồng số tiền là 695.000 đồng/tháng đến khi con chung đã thành niên (Đủ 18 tuổi). Các yêu cầu khác chị H vẫn giữ yêu cầu khởi kiện.

* Anh Nguyễn Thành N các lần Tòa án triệu tập hòa giải, xét xử đều vắng mặt nên không có lời khai.

*Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên Tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã xác định đúng quan hệ tranh chấp, thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, Thẩm phán còn vi phạm trong việc tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho đương sự còn chậm chưa đúng quy định tại Điều 196 Bộ luật tố tụng dân sự cần rút kinh nghiệm thực hiện tốt trong thời gian tới. Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn trong vụ án đã chấp hành đúng và thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Riêng bị đơn anh N các lần hòa giải đều vắng mặt không lý do là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của đương sự quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự quy định. Anh N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh N là phù hợp, đúng quy định. Về việc giải quyết vụ án đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phan Thị Kiều H. Con chung: Để chị H được tiếp tục nuôi dưỡng. Buộc anh N cấp dưỡng nuôi con chung cho chị H hằng tháng là 695.000 đồng.Tài sản chung, nợ chung: Chị H khai không có nên không đặt vấn đề xem xét, giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn anh Nguyễn Thành N đã được Tòa án nhân dân huyện Bình Đại tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, được Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, được triệu tập hợp lệ đến Tòa án để hòa giải đến lần thứ 2 nhưng anh N vẫn vắng mặt. Anh N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt đề ngày 15/5/2019. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh N là phù hợp, đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung vụ án:

Về quan hệ hôn N:

Chị Phan Thị Kiều H và anh Nguyễn Thành N kết hôn năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Bình Thới, huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, phù hợp quy định của pháp luật nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn cả hai chung sống hạnh phúc đến tháng 4 năm 2018 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị H trình bày là do bất đồng quan điểm chị H nói anh N không nghe, anh N chỉ nghe lời mẹ chồng. Chị H và anh N ly thân từ tháng 4 năm 2018 đến nay, mỗi người sống riêng. Điều đó chứng tỏ hôn nhân giữa chị H và anh N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Anh N cũng không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu ly hôn của chị H. Chị H vẫn giữ yêu cầu được ly hôn với anh N. Xét thấy, yêu cầu ly hôn của chị H đối với anh N là có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung:

Chị Phan Thị Kiều H khai, chị và anh N chung sống có với nhau 01 con chung tên Nguyễn Phan Gia Bảo, sinh ngày: 01/12/2018, chị H đang nuôi dưỡng. Đơn khởi kiện và tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung. Các lần mời giải quyết vụ án tại Tòa án và xét xử sơ thẩm, anh N đều vắng mặt, không có ý kiến phản hồi về việc nuôi dưỡng con chung. Ly hôn chị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là phù hợp quy định pháp luật và hoàn toàn có căn cứ theo Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Chị H nuôi dưỡng con chung yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con chung hằng tháng cho chị số tiền là 695.000 đồng đến khi con chung đã thành niên (Đủ 18 tuổi). Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của chị H là phù hợp với quy định của pháp luật theo Điều 107, 110, 116, 117 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Thời gian thực hiện việc cấp dưỡng tính từ ngày xét xử sơ thẩm ngày 24/5/2019 đến khi con chung đã thành niên (Đủ 18 tuổi).

Tài sản chung, nợ chung:

Đơn khởi kiện và tại phiên Tòa sơ thẩm hôm nay, chị H khai không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.

Về án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

- Chị H phải chịu theo luật định là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

- Anh Nguyễn Thành N phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của chị Phan Thị Kiều H.

2. Chị Phan Thị Kiều H được ly hôn với anh Nguyễn Thành N.

3. Về con chung: Chị Phan Thị Kiều H được tiếp tục nuôi dưỡng con chung Nguyễn Phan Gia Bảo, sinh ngày: 01/12/2018. Anh Nguyễn Thành N phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Phan Thị Kiều H hằng tháng số tiền là 695.000 đồng (Sáu trăm chín mươi lăm nghìn đồng) kể từ ngày xét xử sơ thẩm ngày 24/5/2019 cho đến khi con chung đã thành niên (Đủ 18 tuổi).

Trong thời gian con chung của chị H và anh N chưa thành niên (Chưa đủ 18 tuổi), chị H có quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con chung, anh N có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung. Anh N không trực tiếp nuôi con chung có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

4. Tài sản chung, nợ chung: Đơn khởi kiện và tại phiên Tòa sơ thẩm hôm nay, chị Phan Thị Kiều H khai không có nên Hội đồng xét xử không xét đến.

5. Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm:

Chị Phan Thị Kiều H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0001411 ngày 13/3/2019 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Đại, tỉnh Bến Tre, chị H đã nộp đủ án phí.

Anh Nguyễn Thành N phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Chị Phan Thị Kiều H có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn anh Nguyễn Thành N vắng mặt tại phiên Tòa cũng có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ