vanban.org

Bản án 50/2019/DS-ST — Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về sức khỏe, tính mạng — án dân sự — "Trần Đức T yêu cầu Phạm Thanh V bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm"
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2019/DS-ST
Ngày: 24-7-2019
V/v “Tranh chấp về bồi thường
thiệt hại ngoài hợp đồng do sức
khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm,
uy tín bị xâm phạm”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI,

TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trà Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Anh Thư

Ông Bùi Vạn Huynh.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đình Nam-Thư ký Toà án nhân dân thành phố Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Thy-Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Quảng Ngãi mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 50/2019/TLST-DS ngày 26/02/2019 về việc: “Tranh chấp về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 162/2019/QĐXXST-DS ngày 22/5/2019, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Trần Đức T, sinh năm 1974, có mặt.

Địa chỉ: Hẻm 900 đường QT, tổ 14, phường CL, thành phố QN, tỉnh Quảng Ngãi.

Bị đơn: Ông Phạm Thanh V, sinh năm 1983, có mặt.

Địa chỉ: Hẻm 900 đường QT, tổ 14, phường CL, thành phố QN, tỉnh Quảng Ngãi.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Trương Thị Thanh P, sinh năm 1975, có mặt.

Địa chỉ: Hẻm 900 đường QT, tổ 14, phường CL, thành phố QN, tỉnh Quảng Ngãi.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 10/01/2019, đơn khởi kiện bổ sung ngày 25/01/2019, bản tự khai các ngày 11/3/2019, ngày 18/4/2019, đơn trình bày ngày 16/4/2019, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải ngày 08/5/2019 và tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn ông Trần Đức T trình bày:

Vào ngày 06/7/2018 ông đi làm về thì thấy ông Phạm Thanh V đang ở trên tấm đanh cửa sổ nhà ông, ông V đang tô xung quanh ống thông hơi toilet đang chỉa vào buồng ngủ của nhà ông. Thấy vậy, ông yêu cầu ông V tháo gỡ ống ra nhưng ông V vẫn tiếp tục làm nên ông lấy cây chọc ngăn không cho ông V làm và ông V leo về nhà. Một lúc sau thấy ông V đang ngồi ngoài đường trước nhà, tay cầm bay làm hồ đang tô lên tường, ông nói với ông V “ông bỏ ống thông hơi ra nghe không”, ông V trả lời “không bỏ, đất của ông hả”, ông nói “đất của ông chứ ai, nhưng mà đất ai thì cũng không được đặt ống thông hơi như thế”. Ông V đang ngồi cầm bay hồ đứng dậy bất ngờ chém thẳng cái bay vào đầu ông. Ông V vừa đánh vừa nói “hôm nay giết ông”, ông và ông V vật nhau vào hàng rào lưới B40. Sau đó được mọi người chạy đến can ngăn. Ông V còn đe dọa “ra đường gặp ông đâu đánh đó, đánh cho ông từ thầy giáo viên thành nông dân”. Ông bị chẻ đầu, máu ra nhiều nên vợ ông đã đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Quảng Ngãi và sau khi xuất viện vào ngày 10/7/2019, ông đi kiểm tra sức khỏe tại Bệnh viện Đà Nẵng. Căn cứ Bản kết luận giám định số 126/GĐPY ngày 02/8/2018 giám định thương tích, kết luận như sau: 01 sẹo vùng đỉnh phải 02%, 01 sẹo ngón 1 bàn chân phải 01%, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03%. Tổn thương trên phù hợp vật sắc gây thương tích. Thiệt hại về sức khỏe, ông yêu cầu ông Phạm Thanh V phải bồi thường thiệt hại cho ông như sau:

1/ Chi phí cho việc cứu chữa: Tiền điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Quảng Ngãi là: 1.885.893, tiền thuốc sau khi xuất viện 734.000 đồng, tiền xe đưa đi cấp cứu 200.000 đồng, tiền thuê y tá rửa vết thương và tiêm thuốc 1.000.000 đồng, tiền chụp MRI ở Bệnh viện Đà Nẵng 1.754.000 đồng, tiền thuốc ở Bệnh viện Đà Nẵng 431.980 đồng, chi phí xe đi Đà Nẵng 300.000 đồng. Tổng cộng 6.305.873 đồng. Gồm các chứng từ: Hóa đơn bán hàng số 0080304 ngày 12/7/2018 số tiền 431.980 đồng, Hóa đơn bán hàng số 0091014 ngày 19/7/2018 số tiền 734.000 đồng, Hóa đơn bán hàng số 0176749 ngày 12/7/2018 số tiền 1.754.000 đồng, giấy xác nhận ngày 20/7/2018 của Trạm y tế phường Trần Hưng Đạo.

2/ Chi phí cho việc bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe: Tiền ăn uống, bồi dưỡng tại Bệnh viện 05 ngày x 300.000 đồng/ngày = 1.500.000 đồng, tiền bồi dưỡng sau khi ra viện 10 ngày x 300.000 đồng/ngày = 3.000.000 đồng. Tổng cộng 4.500.000 đồng.

3/ Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị: 05 ngày x 250.000 đồng/ngày = 1.250.000 đồng. Chứng từ: Đơn xin phép của bà Trương Thị Thanh P ghi ngày 06/7/2019.

4/ Khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần là 15 tháng x 1.390.000 đồng/tháng = 20.850.000 đồng. Tại phiên tòa ông thay đổi yêu cầu cho rằng hiện nay mức lương cơ sở do Nhà nước quy định là 1.490.000 đồng nên ông yêu cầu bồi thường là 15 tháng x 1.490.000 đồng/tháng = 22.350.000 đồng.

Tổng cộng ông yêu cầu ông Phạm Thanh V bồi thường 34.405.873 đồng.

Ngoài ra còn 01 Hóa đơn bán hàng số 0176748 ngày 12/7/2018 số tiền 10.000 đồng, số tiền không lớn nên ông không yêu cầu bồi thường.

Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe, tài sản của ông V thì ông không đồng ý bồi thường cho ông V, vì ông không có đánh ông V.

Tại đơn khởi kiện phản tố ngày 22/3/2019, đơn phản tố bổ sung ngày 12/4/2019, đơn trình bày các ngày 20/3/2019, ngày 12/4/2019, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải các ngày 08/5/2019 và tại phiên tòa sơ thẩm bị đơn ông Phạm Thanh V trình bày:

Vào khoảng 09 giờ sáng ngày 06/7/2018, ông dùng xi măng trám vết lỡ vách tường ngay ống thông khí kho nhà ông, ông T thấy và ra lệnh cho ông trám lổ thông khí kho nhưng ông không nói gì vẫn tiếp tục làm thì ông T lấy cán cuốc đập phá vào chỗ vách tường nhà ông, không cho ông làm thì ông không làm nữa và đi về phía trước nhà. Khi về phía trước ngay cổng nhà ông, lượng xi măng còn dư ông đem trám vết lỡ tại cổng nhà. Trong lúc đang làm thì ông T tiến đến có nói với ông “bảo ông trám lỗ thông hơi mà có làm không”, ông không trả lời và tiếp tục làm thì ông T chửi ông “điếc hay ngu mà không hiểu những lời ông nói”. Lúc đó ông làm xong việc đứng lên đi vô nhà thì ông T chỉ tay vào mặt ông và hỏi “có làm không”, ông nói “không” và gạt tay ông T ra thì ông T dùng tay phải đánh vào mặt khiến mắt kính của ông bị vỡ rơi xuống đường. Mắt ông bị cận nên chỉ thấy loạn choạng. Sau đó ông quơ ca đựng xi măng đã hết đang cầm trên tay phải vào người ông T. Khi đó ông T nhào vô dùng hai tay bóp xiếc cổ ông, trong lúc vùng vẫy để thoát ra thì tay trái ông có cầm cái bay làm trước đó quơ đụng vào đầu ông T lúc nào không biết. Ông T là người cao to và khỏe hơn ông nên đã đè ông vào lưới B40 của ông L đối diện nhà ông, đè ông ngã nằm trên lưới B40 bóp cổ ông, đánh vào đầu ông và nói: “Bữa nay ông giết”. Mọi người đến can ngăn ông T ra. Ông bị thương ở vùng cổ và vùng đầu đã nhập viện và điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Quảng Ngãi từ ngày 08/7/2018 đến ngày 11/7/2018 ra viện. Vợ ông T là bà Trương Thị Thanh P gửi đơn tố cáo không đúng sự thật đến cơ quan đơn vị Công ty Cổ phần lọc hóa dầu Bình Sơn, nơi ông đang công tác với những lời lẽ xúc phạm bôi nhọ, nhục mạ đến danh dự, nhân phẩm gây ảnh hưởng uy tín làm việc và tinh thần ông, thể hiện bằng từ ngữ: Bản chất côn đồ, mất nhân tính, mầm họa cho cơ quan, láng giềng và xã hội. Nay ông yêu cầu buộc ông Trần Đức T phải bồi thường thiệt hại cho ông các khoản thiệt hại về sức khỏe, tài sản như sau:

1/ Chi phí cho việc cứu chữa: Tiền điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Quảng Ngãi là: 614.199 đồng, tiền thuốc sau khi xuất viện 225.000 đồng. Tổng cộng 839.199 đồng. Gồm các chứng từ: Hóa đơn bán hàng số 0079082 ngày 06/7/2018 số tiền 58.800 đồng, Hóa đơn bán hàng số 0080579 ngày 12/7/2018 số tiền 555.399 đồng, Hóa đơn bán hàng số 0009227 ngày 06/7/2018 số tiền 225.000 đồng.

2/ Khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần là 15 tháng x 1.390.000 đồng/tháng = 20.850.000 đồng. Tại phiên tòa ông thay đổi yêu cầu cho rằng hiện nay mức lương cơ sở do Nhà nước quy định là 1.490.000 đồng nên ông yêu cầu bồi thường là 15 tháng x 1.490.000 đồng/tháng = 22.350.000 đồng.

Tổng cộng ông yêu cầu ông Trần Đức T bồi thường 23.189.199 đồng.

Ông yêu cầu ông Trần Đức T bồi thường thiệt hại về tài sản bị xâm phạm là mắt kính bị vỡ 850.000 đồng nhưng tại phiên tòa ông cho rằng mắt kính đã mua từ năm 2016 giá từ 800.000 đồng đến 900.000 đồng nên giá trị không lớn nên ông rút yêu cầu bồi thường mắt kính.

Đối với bà Trương Thị Thanh P gây thiệt hại về danh dự, nhân phầm, uy tín cho ông nên ông yêu cầu bà Trương Thị Thanh P phải bồi thường khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm là 05 tháng x 1.390.000 đồng/tháng = 6.950.000 đồng. Tại phiên tòa ông thay đổi yêu cầu cho rằng hiện nay mức lương cơ sở do Nhà nước quy định là 1.490.000 đồng nên ông yêu cầu bồi thường là 05 tháng x 1.490.000 đồng/tháng = 7.450.000 đồng.

Đối với yêu cầu của ông T về các khoản bồi thường, ông chỉ chấp nhận các khoản chi phí có các chứng từ hợp lệ, còn các khoản khác không chấp nhận, cụ thể như sau: Chỉ chấp nhận bồi thường tiền thuốc sau khi xuất viện 734.000 đồng, tiền xe cấp cứu 200.000 đồng, tiền bồi dưỡng tại bệnh viện 1.500.000 đồng, bồi thường ½ chi phí điều trị 1.885.893 đồng và ngoài ra các khoản yêu cầu bồi thường khác của ông T ông không đồng ý bồi thường.

Tại bản tự khai ngày 16/4/2019, đơn trình bày ngày 16/4/2019, biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và biên bản hòa giải ngày 08/5/2019 và tại phiên tòa sơ thẩm người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trương Thị Thanh P trình bày:

Sau khi chồng bà là ông Trần Đức T bị ông V gây thương tích cấp cứu vào ngày 06/7/2018, vào ngày 09/7/2018 bà có làm đơn trình báo gửi đến công ty của ông V để trình báo sự việc. Trong đơn trình báo bà trình bày sự thật về sự việc xảy ra với chồng bà. Bà chỉ mong muốn cơ quan ông V cần phải có biện pháp để giáo dục và răn đe ông V để ông không tiếp tục gây nguy hại cho đồng nghiệp và mọi người xung quanh và ông V cũng đã được cơ quan điều tra xác nhận cần phải giáo dục và ngăn ngừa chung cho xã hội theo thông báo ngày 15/10/2018. Do ông Phạm Thanh V có hành vi gây thương tích cho chồng bà là ông Trần Đức T nên bà làm đơn trình bày sự việc gửi đến cơ quan của ông V biết để có biện pháp giáo dục ông V là không sai nên bà không đồng ý với yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại danh dự, nhân phẩm, uy tín của ông V.

Lúc chồng bà nhập viện cấp cứu, bà đang dạy học nên bà đã tìm người nuôi nhưng không có, vì vậy bà phải xin nghỉ dạy để nuôi chồng ở bệnh viện. Trường bà là trường Đại học công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh có phân hiệu tại Quảng Ngãi hoạt động theo cơ chế tự chủ và trả lương theo tiết chuẩn, vì vậy 05 ngày nghỉ của bà không thể hoàn thành đủ tiết chuẩn của năm học vì vậy nhà trường sẽ tổng két lại trừ lương vào năm học sau.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị:

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Đức T về việc buộc ông Phạm Thanh V phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm với các khoản thiệt hại cho ông Trần Đức T sau:

1/ Chi phí cho việc cứu chữa: Tổng cộng 4.815.513 đồng.

2/ Chi phí cho việc bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe: Tổng cộng 4.500.000 đồng.

3/ Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị: 05 ngày x 250.000 đồng/ngày = 1.250.000 đồng.

4/ Khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần chỉ chấp nhận là 03 tháng x 1.490.000 đồng/tháng = 4.470.000 đồng.

Tổng cộng thiệt hại là 15.035.513 đồng. Nhưng ông T có một phần lỗi nên phải chịu 40% số tiền thiệt hại là 6.014.205 đồng, còn lại thiệt hại 60% ông V phải bồi thường cho ông T là 9.021.308 đồng.

- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện phản tố của bị đơn ông Phạm Thanh V về việc buộc ông Trần Đức T phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm với các khoản thiệt hại cho ông Phạm Thanh V sau:

1/ Chi phí cho việc cứu chữa: Tổng cộng 839.199 đồng.

2/ Không chấp nhận khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần của ông V yêu cầu là 15 tháng x 1.490.000 đồng/tháng = 22.350.000 đồng.

Tổng cộng thiệt hại là 839.199 đồng. Nhưng ông V có một phần lỗi nên phải chịu 60% số tiền thiệt hại là 503.519 đồng, còn lại thiệt hại 40% ông T phải bồi thường cho ông V là 335.680 đồng.

Không chấp nhận yêu cầu của ông V về yêu cầu bà Trương Thị Thanh P bồi thường thiệt hại danh dự, nhân phẩm, uy tín 05 tháng x 1.490.000 đồng/tháng = 7.450.000 đồng.

Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu bị đơn ông Phạm Thanh V đã rút yêu cầu bồi thường tiền thiệt hại về mắt kính là 850.000 đồng.

Ông Phạm Thanh V và ông Trần Đức T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về nội dung:

- Xét yêu cầu của nguyên đơn ông Trần Đức T: Buộc ông Phạm Thanh V phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho ông Trần Đức T, thì thấy rằng:

Tại Biên bản sự việc ngày 06/7/2018 của Công an phường Chánh Lộ, Thông báo kết luận giám định số 21/CSĐT(ĐTTH) ngày 06/8/2018, Quyết định không khởi tố vụ án hình sự số 87/CSĐT(ĐTTH) ngày 11/10/2018 đều của Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố Quảng Ngãi, Quyết định giải quyết khiếu nại số 09/QĐ-VKS ngày 12/11/2018 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Qua phân tích các tài liệu chứng cứ nêu trên có căn cứ xác định: Vào khoảng 09 giờ ngày 06/7/2018, ông Trần Đức T đi làm về thấy ông V đang ở trên tấm đanh nhà ông T để sửa chữa ống thoát khí nhà ông V. Ông T yêu cầu ông V gỡ ống thoát khí xuống nhưng ông V không thực hiện, ông T lấy cán cuốc đập ống nhựa thụt vào bên trong. Ông V tiếp tục lấy hồ ra trám trước nhà ông V, ông T ra nói sao không trám ống thoát khí lại thì hai bên có lời qua tiếng lại và xảy ra xô xát, ông T dùng tay tát ông V một cái làm rơi kính cận của ông V, ông V cầm ca hồ đánh lại ông T, ông T dùng hai tay bóp cổ, ông V vùng vẫy nên đã quơ tay, trên tay có cầm cái bay đánh trúng vào phần đầu của ông T, hai bên vật nhau dưới bờ lưới B40, hậu quả ông T bị thương tích 03%, còn ông V bị chấn thương đầu.

Như vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu bồi thường của nguyên đơn ông Trần Đức T, buộc ông Phạm Thanh V phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm cho ông Trần Đức T do ông Phạm Thanh V gây ra, là phù hợp với quy định tại Điều 584 Bộ luật Dân sự năm 2015 (căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường), khoản 1: “Người nào có hành vi xâm phạm sức khỏe, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”.

Qua xem xét yêu cầu bồi thường các khoản thiệt hại của nguyên đơn ông Trần Đức T thì Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận những khoản thiệt hại hợp lý buộc bị đơn ông Phạm Thanh V bồi thường thiệt hại cho ông Trần Đức T như sau:

1/ Chi phí cho việc cứu chữa: Tiền điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Quảng Ngãi là: 395.533 đồng (Hóa đơn bán hàng số 0080456 ngày 10/7/2018 bút lục 52), tiền thuốc sau khi xuất viện 734.000 đồng, tiền xe đưa đi cấp cứu 200.000 đồng, tiền thuê y tá rửa vết thương và tiêm thuốc 1.000.000 đồng, tiền chụp MRI ở Bệnh viện Đà Nẵng 1.754.000 đồng, tiền thuốc ở Bệnh viện Đà Nẵng 431.980 đồng, chi phí xe đi Đà Nẵng 300.000 đồng. Tổng cộng 4.815.513 đồng.

2/ Chi phí cho việc bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe: Tiền ăn uống, bồi dưỡng tại bệnh viện 05 ngày x 300.000 đồng/ngày = 1.500.000 đồng, tiền bồi dưỡng sau khi ra viện 10 ngày x 300.000 đồng/ngày = 3.000.000 đồng. Tổng cộng 4.500.000 đồng.

3/ Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị: 05 ngày x 250.000 đồng/ngày = 1.250.000 đồng.

4/ Khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần là 05 tháng x 1.490.000 đồng/tháng = 7.450.000 đồng.

Tổng cộng chấp nhận các khoản thiệt hại của ông Trần Đức T là: 18.015.513 đồng, nhưng sự việc này ông Trần Đức T có một phần lỗi là khi ông V làm ống thoát khí ảnh hưởng đến nhà ông T nhưng ông T không yêu cầu cơ quan chức năng giải quyết nên phải chịu ¼ khoản tiền thiệt hại là 4.503.878 đồng còn lại khoản tiền thiệt hại ông Phạm Thanh V phải bồi thường cho ông Trần Đức T là 13.511.635 đồng, là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 585, Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Không chấp nhận tiền điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Quảng Ngãi là: 1.490.360 đồng và khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần là 10 tháng x 1.490.000 đồng/tháng = 14.900.000 đồng, tổng cộng không chấp nhận là 16.390.360 đồng, vì không có căn cứ.

- Xét yêu cầu của bị đơn ông Phạm Thanh V: Buộc ông Trần Đức T phải bồi thường thiệt hại do sức khỏe, tài sản bị xâm phạm cho ông Phạm Thanh V và buộc bà Trương Thị Thanh P bồi thường thiệt hại danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm cho ông Phạm Thanh V, thì thấy rằng: Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận những khoản thiệt hại hợp lý buộc nguyên đơn ông Trần Đức T bồi thường cho ông Phạm Thanh V như sau:

1/ Chi phí cho việc cứu chữa: Tiền điều trị tại Bệnh viện Đa khoa Quảng Ngãi là: 614.199 đồng, tiền thuốc sau khi xuất viện 225.000 đồng. Tổng cộng 839.199 đồng.

2/ Khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần là 01 tháng x 1.490.000 đồng/tháng = 1.490.000 đồng.

Tổng cộng chấp nhận các khoản thiệt hại của ông Phạm Thanh V là: 2.329.199 đồng nhưng sự việc này ông Phạm Thanh V có một phần lỗi là khi ông V làm ống thoát khí sang phía nhà ông T làm nhưng không báo với ông T biết nên phải chịu ¼ khoản tiền thiệt hại là 582.299 đồng còn lại ông Trần Đức T phải bồi thường cho ông Phạm Thanh V là 1.746.900 đồng, là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 585, Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Không chấp nhận khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần là 14 tháng x 1.490.000 đồng/tháng = 20.860.000 đồng, vì không có căn cứ.

Ông Phạm Thanh V rút yêu cầu ông Trần Đức T bồi thường thiệt hại về tài sản là mắt kính bị vỡ 850.000 nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử.

Đối với ông Phạm Thanh V yêu cầu bà Trương Thị Thanh P phải bồi thường thiệt hại danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm với khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần là 05 tháng x 1.490.000 đồng/tháng = 7.450.000 đồng, thì thấy rằng ông T chồng bà P và ông V có xảy ra xô xát, bà P gửi đơn đến cơ quan của ông V để trình bày sự việc xảy ra xô xát giữa ông V và chồng của bà P là không có vi phạm pháp luật, do đó ông V yêu cầu bà P bồi thường thiệt hại về danh dự, nhân phẩm, uy tín với số tiền trên là không có căn cứ nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn ông V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần ông V phải bồi thường thiệt hại cho ông T là 13.511.635 đồng x 5% = 675.581 đồng.

Nguyên đơn ông T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần ông T phải bồi thường thiệt hại cho ông V là 300.000 đồng.

Nguyên đơn ông T, bị đơn ông V được miễn tiền án phí dân sự về bồi thường thiệt hại đối với phần mà các ông yêu cầu nhưng không được chấp nhận.

Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Với những nhận định trên là phù hợp với một phần ý kiến tại phiên tòa của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi.

Vì các leõ treân,

QUYEÁT ÑÒNH:

Căn cứ vào: Điều 584, khoản 4 Đieàu 585, Điều 590, Điều 592 Boä luaät Daân söï naêm 2015; Khoản 6 Điều 26, Điều 35, khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 144, khoản 1, khoản 5 Điều 147, Điều 235, Điều 244, Điều 267, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm d, khoản 1 Điều 12, khoản 1, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Đức T.

Buộc ông Phạm Thanh V phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm số tiền 13.511.635 đồng (mười ba triệu, năm trăm mười một ngàn, sáu trăm ba mươi lăm đồng) cho ông Trần Đức T.

2/ Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của bị đơn ông Phạm Thanh V.

Buộc ông Trần Đức T phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm số tiền 1.746.900 đồng (một triệu, bảy trăm bốn mươi sáu ngàn, chín trăm đồng) cho ông Phạm Thanh V.

Không chấp nhận yêu cầu của bị đơn ông Phạm Thanh V yêu cầu bà Trương Thị Thanh P bồi thiệt hại danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm khoản tiền để bù đắp tổn thất về tinh thần là 05 tháng x 1.490.000 đồng/tháng = 7.450.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu bị đơn ông Phạm Thanh V đã rút yêu cầu bồi thường tiền thiệt hại về mắt kính là 850.000 đồng.

3/ Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bị đơn ông Phạm Thanh V phải chịu 675.581 đồng (sáu trăm bảy mươi lăm ngàn, năm trăm tám mươi một đồng).

Nguyên đơn ông Trần Đức T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng).

Nguyên đơn ông Trần Đức T được miễn nộp tạm ứng án phí, tiền án phí theo Thông báo số: 47/TB-TA ngày 26/02/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi về bồi thường thiệt hại đối với phần mà ông T yêu cầu nhưng không được chấp nhận.

Bị đơn ông Phạm Thanh V được miễn nộp tạm ứng án phí, tiền án phí đối với phần yêu cầu phản tố không được chấp nhận theo Thông báo số: 168/TB-TA ngày 22/3/2019 và Thông báo số: 371/TB-TA ngày 23/5/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi về bồi thường thiệt hại đối với phần mà ông V yêu cầu nhưng không được chấp nhận.

4/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 của Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 luật Thi hành án Dân sự.

Cỡ chữ