- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc K - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 50/2018/HSST Ngày 20/ 08 /2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN THÀNH - BẮC NINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Quang Hòa
Các hội thẩm nhân dân:
1.Ông Nguyễn Đăng Dũng
2. Ông Đỗ Hoàng Long
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Thúy
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành tham gia phiên toà:
Ông Nguyễn Toán Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 08 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Thành mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 37/2018/HSST ngày 09/7/2018 đối với:
Bị cáo: Nguyễn Quốc K – Sinh năm 1996
Địa chỉ: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh T
Nghề nghiệp: Lao đô ông tự do
Trình độ học vấn: 7/12
Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Viê ôt Nam
Con ông: Nguyễn Văn V SN 1965 Con bà: Đặng Thị L SN 1974.
Vợ, con: Chưa có.
Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất.
Tiền sự: không
Tiền án: Tại bản án số 65 ngày 20/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa xử phạt K 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1, Điều 138 Bộ luật hình sự. Trong khi chờ quyết định Thi hành án thì K bỏ trốn nên ngày 16/03/2018 Cơ quan Thi hành án hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa đã ra Quyết định truy nã đối với K.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/04/2018 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh.
(Có mặt tại phiên toà).
NÔÔI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 12/04/2018, tại quán nước nhà anh Nguyễn Văn T ở thôn T, xã X, huyện T, tỉnh B, Công an huyện Thuận Thành đã bắt quả tang đối tượng Nguyễn Quốc K, có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu tại túi quần bò bên phải phía trước K đang mặc có 01 gói nilon màu trắng bên trong túi ni lon có chứa các hạt tinh thể màu trắng. Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Thành đã lập biên bản thu giữ tang vật và ra quyết định trưng cầu giám định chất tinh thể màu trắng đã thu giữ ở trên.
Tại Kết luận giám định số 525/ KLGĐ – PC 54 ngày 12/04/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “Chất tinh thể màu trắng bên trong 01 (một) túi nilon màu trắng có khối lượng 0,2488 gam; là ma túy; loại ma túy: Chất Methamphetamine.
Methamphetamine là chất ma túy được quy định tại Nghị định 82/2013/NĐ – CP, ngày 19/07/2013 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất” .
Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Thuận Thành, Nguyễn Quốc K đã khai nhận: Vào khoảng ngày 11/04/2018, K bắt xe ô tô từ Thanh Hóa đến địa phận huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh để tìm kiếm việc làm. Đến sáng ngày 12/04/2018, K gặp một người đàn ông không quen biết, K hỏi mua ma túy với giá 100.000đ để nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, người đàn ông này đồng ý và đưa cho K 01 gói ni lon màu trắng. K biết gói ni lon đó là ma túy nên đã cất vào túi quần phía trước, bên phải đang mặc và đi đến quán nước ngồi thì bị lực lượng Công an huyện Thuận Thành kiểm tra, phát hiện và thu giữ tang vật như đã nêu trên
Bản cáo trạng số: 39/CT-VKS ngày 09/07/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành đã truy tố Nguyễn Quốc K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.
Tại phiên toà đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuận Thành giữ quyền công tố giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Quốc K theo tội danh và điều luật đã truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 56, Điều 38 Bô ô luâ ôt hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc K từ 18 đến 22 tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của bản án số 65/2017/HSST ngày 20/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai bản án từ 36 đến 40 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/04/2018, nhưng được trừ 90 (Chín mươi) ngày đã bị tạm giữ, tạm giam từ trước của bản án số: 65/2017/HSST ngày 20/11/2017. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh. Bên ngoài phong bì có ghi “mẫu vâ ôt còn lại sau khi giám định” kèm theo kết luận giám định số 525/KLGĐ-PC54 ngày 12/04/2018.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà hôm nay, phần tranh luận sau khi nghe đại diện Viện Kiểm sát công bố bản luận tội đối với bị cáo. Bị cáo không có ý kiến gì với bản luận tội của Viện Kiểm sát mà chỉ đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.
NHÂÔN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nô ôi dung vụ án, căn cứ vào các tài liê ôu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hô ôi đồng xét xử nhâ ôn định như sau:
[1]. Về tô ôi danh, Hô ôi đồng xét xử nhâ ôn thấy: Tại phiên toà hôm nay bị cáo K khai do bị nghiê ôn ma túy nên ngày 12/04/2018 K có đi mua ma túy về sử dụng, nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt. Xét thấy lời khai của bị cáo là có căn cứ phù hợp với biên bản phạm pháp quả tang, tang vật đã thu giữ, kết quả giám định, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ thấy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Quốc K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015, đúng như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm trực tiếp tới chế độ độc quyền quản lý với các chất gây nghiện nói chung và ma tuý nói riêng của nhà nước. Bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm nhưng do là đối tượng nghiện hút, để thoả mãn cơn nghiện nên ngày 12/04/2018 bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và bị Công an bắt quả tang cùng tang vật. Hành vi phạm tội của bị cáo chẳng những làm gia tăng tệ nạn nghiện hút trong cộng đồng dân cư mà còn gây mất trật tự trị an. Xét thấy cần xử lý nghiêm bị cáo bằng luật hình mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nă ông, giảm nhẹ trách nhiê ôm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo đã có 01 tiền án trong khi chờ quyết định Thi hành án thì bị cáo bỏ trốn nên ngày 16/03/2018 Cơ quan Thi hành án hình sự, Công an tỉnh Thanh Hóa đã ra Quyết định truy nã đối với bị cáo, đến nay lại phạm tô ôi, điều đó chứng tỏ bị cáo là người khó cải tạo, giáo dục. Bị cáo phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 BLHS, nên cần tổng hợp hình phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của bản án số 65/2017/HSST ngày 20/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, buộc bị cáo phải chấp hành chung của hai bản án theo khoản 2 Điều 56 BLHS cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hô ôi mô ôt thời gian đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hô ôi.
Tuy nhiên xét về nhân thân bị cáo xuất thân từ gia đình lao động, tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã có thái đô ô thành khẩn khai báo, thể hiê ôn sự ăn năn hối cải, đây là những tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó khi lượng hình cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS có thể áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo, nhưng xét thấy bị cáo phạm tội là do bị nghiện ma tuý, mua về để sử dụng không nhằm mục đích thu lợi nên cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho K, K không biết tên, tuổi địa chỉ cụ thể ở đâu nên Cơ quan CSĐT không có cơ sở để điều tra xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau theo đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về vật chứng: 01 phong bì có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh. Bên ngoài phong bì có ghi “mẫu vâ ôt còn lại sau khi giám định” là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của Pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Quốc K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng: Điểm c Khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 56, Điều 38 Bô ô luâ ôt hình sự năm 2015. Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Quốc K 18 (Mười tám) tháng tù. Tổng hợp với hình phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của bản án số 65/2017/HSST ngày 20/11/2017 của Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa, buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai bản án là 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 12/04/2018, nhưng được trừ 90 (Chín mươi) ngày đã bị tạm giữ, tạm giam từ trước của bản án số: 65/2017/HSST ngày 20/11/2017. Tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (20/08/2018).
Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.
Tịch thu tiêu huỷ 01 phong bì có dấu niêm phong của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh. Bên ngoài phong bì có ghi “mẫu vâ ôt còn lại sau khi giám định” kèm theo kết luận giám định số 525/KLGĐ-PC54 ngày 12/04/2018.
(Theo biên bản giao nhâ ôn vâ ôt chứng ngày 15/08/2018 giữa Công an huyê ôn Thuâ ôn Thành và Chi cục Thi hành án dân sự huyê ôn Thuâ ôn Thành).
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Quốc K phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận : - TAND Tỉnh - VKSND huyện - Công an Huyện - Chi cục T.H.A - Bị cáo - Lưu HS-VPTA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Nguyễn Quang Hòa |