vanban.org

Bản án 50/2018/HSST — Hình sự

TAND huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 13/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trương Sỹ A phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Xử phạt: Bị cáo Trương Sỹ A 03(Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05(Năm năm), thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Trương Sỹ A cho UBND xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực h… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án HSST bị cáo Trương Sỹ A phạm tội "Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 điều 134 BLHS - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trương Sỹ A phạm tội “Cố ý gây thương tích”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM KHÊ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 50/2018/HSST
Ngày 13-11-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Dân

Các Hội thẩm nhân dân: 1- Ông Nguyễn Văn Lợi

2- Bà Hà Thị Hải

- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Trọng Tú- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cẩm

Khê, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê tham gia phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Thu Hà- Kiểm sát viên

Ngày 13 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 49/2018/TLHS ngày 27 tháng 9 năm 2018; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:54/2018/QĐXX-ST ngày 15/10 /2018 đối với bị cáo:

Trương Sỹ A - Sinh năm 1994, tại xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu 1, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: lớp 9/12; con ông Trương Hữu H; Con bà: Trần Thị Q. bị cáo chưa có vợ, con

Danh chỉ bản số:113 do Công an huyện Cẩm Khê lập ngày 08/5/2018

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo không bị bắt giữ, hiện nay đang tại ngoại tại khu 1, xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

Người bị hại: Anh Nguyễn Văn H- sinh năm 1985, trú tại khu 1, xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do (vắng mặt).

Người có nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Trương Sỹ B- sinh năm 1998, trú tại khu 1 xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)

2. Anh Bùi Ngọc S- sinh năm 1997, trú tại khu 3 xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)

3. Anh Trần Ngọc L- sinh năm 1997, trú tại khu 3 xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)

2. Anh Bùi Xuân Q- sinh năm 1998, trú tại khu 3 xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)

2. Anh Lê Văn S1- sinh năm 1994, trú tại khu 3 xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa,, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 17 giờ ngày 18/2/2018, Trương Sỹ A đi xe máy từ nhà vào nhà bà Trịnh Thị T- sinh năm 1940 ( là bà ngoại A) ở khu 5 xã T chơi. Khi đi đến đoạn đường gần trường tiểu học xã T thì A nhìn thấy Trương Sỹ B ( tên gọi khác là T là em họ A) đi xe máy SH trở sau là Lê Văn S, đi sau là Trần Ngọc L ( L đi xe máy một mình), đi cuối là Bùi Xuân Q đi xe máy trở Bùi Ngọc S, đều ở xã T ( nhóm Ba, Sang, Q, L, S đi đánh nhau). A nhìn thấy B, L và Q điều khiển xe máy đi vào khu 5 xã T và A điều khiển xe đi phía sau xe B, L và Q. Khi đi đến đoạn đường rẽ vào nhà bà ngoại A cách khoảng 200m thì A nhìn thấy phía trước có tập trung đông người, trong khi đó A nhìn thấy B, L và Q điều khiển xe máy đi về hướng đó. Nên A điều khiển xe vượt trước xe của L và Q để hỏi B và S đi đâu ( do A không quen biết với Q, S1, L). Nhưng do B điều khiển xe máy đi quá nhanh nên A không hỏi được. Nên A điều khiển xe máy đi sau xe B và S. Khi A đi đến cổng nhà ông Hoàng Trung T – 1964 ở khu 5 xã T thì A nhìn thấy anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1985 ở khu 1 xã C, huyện C hai tay cầm 02 mẩu gạch vồ. B và S đi xe máy qua chỗ anh H cách khoảng 02 m thì xuống xe với mục đích để đánh anh H. Thấy vậy A dừng xe máy và xuống xe, khi A vừa bước xuống được một bước thì bị anh H ném một mẩu gạch vồ đang cầm trên tay trúng vào phía trên góc mắt trái khiến A bị choáng và chảy máu. Cùng lúc này thì B, S, L, Q và S1 cũng lao vào dùng tay chân đấm đá anh H khiến anh H bị ngã ra đường. L có dùng 01 gậy sắt dài 67cm, màu đen, có 03 khúc, đoạn chuôi dài 25cm, đường kính 2,5cm ( mang theo từ trước) vụt vào chân anh H. A chạy lại chỗ anh H đang nằm dùng chân đá một cái vào bụng anh H. Lúc này do vết thương chảy nhiều máu nên A quay lại xe máy của mình thì chân của A có đá trúng một mẩu gạch vồ có kích thước 10cm x10cm x 10cm. A nghĩ rằng đây chính là mẩu gạch mà anh H đã dùng để ném A nên A cầm mẩu gạch đó lên và ném về phía đầu anh H trúng vào vùng thái dương trái của H. Khiến vùng thái dương trái anh H bị thương và chảy máu. Thấy H chảy nhiều máu nên nhóm Q, L, S, B, S dừng lại không tiếp tục đánh H nữa. Sau đó B và S đưa A lên trạm y tế xã T để sơ cứu vết thương. Còn đối với anh H thì cũng được người dân đưa lên trạm y tế xã T sơ cứu rồi chuyển đến Trung tâm y tế huyện C cấp cứu, điều trị từ ngày 18/2/2018 đến ngày 22/02/2018 thì chuyển Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Thọ tiếp tục điều trị từ ngày 22/02/2018 đến ngày 05/3/2018 ra viện.

Vật chứng thu giữ: 01 mẩu gạch (loại gạch xỉ trắng), kích thước 10cm x10cm x 10cm; 01 gậy sắt dài 67cm, màu đen, có 03 khúc, đoạn chuôi dài 25cm, đường kính 2,5cm.

Tại Biên bản xác định thương tích ban đầu ngày 18/02/2018 của Trung tâm y tế huyện C xác định: Nguyễn Văn H bị sưng nề, bầm tím mắt hai bên. Vùng trán trái có vết thương dài 5cm, bờ nham nhở, sâu xát xương, không có dị vật. Vành tai phải có vết thương kích thước 2cm x 1cm, rách lộ sụn vành tai. Vết thương xây xát da vùng mu bàn tay, ngón tay hai bên kích thước 1cm x 2cm. Kết quả chụp chiếu CT sọ não phát hiện tụ máu màng cứng thái dương trái kích thước nhỏ. Chuẩn đoán đa thương tích.

Ngày 21/03/2018, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Khê đã ra quyết định trưng cầu giám định tỷ lệ thương tích của Nguyễn Văn H.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 90/TgT/2018 ngày 29/03/2018 của Trung tâm pháp y Sở y tế Phú Thọ xác định thương tích của Nguyễn Văn H:

+ Hai vết sẹo phần mềm: 03%;

+ Tụ máu dưới màng cứng vùng thái dương đỉnh phải, tụ máu ngoài màng cứng thùy thái dương trái đã điều trị không có di chứng thần kinh: 21%;

+ Mi mắt hai bên và mu bàn tay hai bên không để lại thương tích: 0%;

+ Không phát hiện thấy vỡ xương trán thái dương trái trên phim chụp CT.Scanner sọ não của Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ ngày 23/3/2018: 0%.

Áp dụng phương pháp cộng lùi các tổn thương: 23,37%. Làm tròn: 23%.

Kết luận: Tỷ lệ phần trăm thương tích của anh Nguyễn Văn H là 23% (Hai mươi ba phần trăm). Cơ chế gây thương tích đối với anh Nguyễn Văn H: Vết sẹo vùng trán trái : Do vật tày cứng có bề mặt không phẳng gọn tác động trực tiếp từ ngoài vào trong, từ trước ra sau gây rách da và tổ chức dưới da, tụ máu ngoài màng cứng vùng trán trái, tụ máy dưới màng cứng vùng thái dương đỉnh phải; Vết sẹo vành tai phải: Do vật tày cứng tác động trực tiếp từ ngoài vào trong gây rách da và tổ chức dưới da.

Căn cứ nội dung vụ án đối chiếu với biên bản xác định thương tích ban đầu và bản kết luận giám định thương tích về tỉ lệ tổn hại phần trăm sức khỏe và cơ chế hình thành thương tích đối với anh Nguyễn Văn H như trên, có thể thấy: Vết thương tụ máu dưới màng cứng vùng thái dương đỉnh phải, tụ máu ngoài màng cứng thùy thái dương trái đã điều trị không có di chứng thần kinh với tỷ lệ thương tích 21% của anh Nguyễn Văn H là do hành vi Trương Sỹ A dùng gạch ném trúng vào vùng thái dương trái gây ra.

Đối với vết sẹo vùng trán trái và vết sẹo ở vành tai phải của anh Nguyễn Văn H, ngày 09/8/2018 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Cẩm Khê đã ra quyết định trưng cầu giám định bổ sung để xác định tỷ lệ thương tích của mỗi vết sẹo là bao nhiêu phần trăm. Tuy nhiên anh Nguyễn Văn H đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến làm việc. Qua xác minh ở địa phương xác định hiện tại anh H không có mặt tại địa phương. Nên không có đủ cơ sở để xác định vết sẹo ở dùng trán trái do A gây ra là bao nhiêu phần trăm. Do vậy chỉ có đủ cơ sở xác định tỷ lệ phần trăm thương tích của anh H do A dùng gạch gây ra là 21% như đã nêu trên.

Tại cơ quan điều tra, Trương Sỹ A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã trình bày ở trên. Lời khai của bị can phù hợp với lời khai của bị hại Nguyễn Văn H về phương thức, thủ đoạn phạm tội và phù hợp với lời khai người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, vật chứng, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Đối với nhóm Trương Sỹ B, Trần Ngọc L, Lê Văn S1, Bùi Xuân Q, Bùi Ngọc S trước đó cũng như trong suốt quá trình đánh anh H, không bàn bạc gì với A về việc đánh anh H. Việc A dùng gạch ném gây thương tích cho anh H nhóm B, S, Q, Luân, S1 cũng không biết. Do vậy không có đủ cơ sở để xác định đồng phạm đối với B, S, Q, L và S1. Tuy nhiên trong quá trình xô xát B, S, Q, L và S1 có dùng tay chân đấm đá anh H, L có dùng gậy sắt vụt vào chân anh H, nhưng không để lại thương tích. Do vậy, ngày 17/8/2018, Công an huyện Cẩm Khê đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với B, S, Q, L, S1 về hành vi “Xâm hại sức khỏe đối với người khác”.

Đối với thương tích của Trương Sỹ A, tại Biên bản xác định thương tích ban đầu ngày 18/02/2018 tại Trạm y tế xã T xác định Trương Sỹ A có thương tích sau: Vết thương phần mềm vị trí đuôi mắt trái vết thương đường kính 1,5cm, thủng da tổ chức dưới da đến xương sọ, không thủng xương sọ, vết thương gọn đã cầm máu. Do thương tích của Trương Sỹ A không lớn nên A từ chối giám định thương tích và có đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Văn H nên Cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Khê không đề cập xử lý hình sự đối với Nguyễn Văn H là đúng quy định của pháp luật.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Trương Sỹ A cùng với S1, L, Quân, S, B đã tự nguyện bồi thường cho bị hại Nguyễn Văn H số tiền 80.000.000đ. Bị hại H không có đề nghị A phải bồi thường thêm gì khác và có đơn đề nghị không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Trương Sỹ A.

Đối với thương tích của Trương Sỹ A do anh H dùng gạch ném, do thương tích không lớn nên A không đề nghị H phải bồi thường cho Anh và không có đề nghị gì khác.

Tại bản cáo trạng số 51/CT-VKS ngày 20/9/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê truy tố bị cáo Trương Sỹ A về tội “Cố ý gây thương tích”, theo điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 điều 134; điểm b,s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 65 Bộ luật hình sự đối bị cáo Trương Sỹ A.

Xử phạt bị cáo từ 24 đến 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 60 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận anh Nguyễn Văn H đã nhận đủ số tiền 80.000.000đ do Trương Sỹ A cùng với S1, L, Q, S, B bồi thường.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 mẩu gạch; 01 con gậy sắt dài 67cm.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trương Sỹ A phải chịu 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố và không tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác. Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung của vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng. Hội đồng xét xử nhận định.

. Về tố tụng hình sự: Các quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Khê, Điều tra viên trong quá trình điều tra; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố, cơ quan giám định đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến gì hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về căn cứ buộc tội: Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình vào khoảng 17 giờ ngày 18/02/2018 bị cáo có hành vi gây thương tích cho anh H mất 21% sức khỏe. Xét lời nhận tội của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận bị cáo Trương Sỹ A đã phạm tội "Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ luật hình sự. Do đó bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 134 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng

gây nguy hại cho nhiều người;

“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm

đến 06 năm:

…

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.

. Về tính chất hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của con người được luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an ở địa phương và bất bình trong quần chúng nhân dân, nên cần phải được xử lý nghiêm để giáo dục và phòng ngừa tội phạm.

. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ giữa bị cáo và anh H, bị cáo đã dùng mẩu gạch gây thương tích cho anh H mất 21% sức khỏe, bị cáo thực hiện với lỗi cố ý, nên bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi mà bị cáo gây ra. Lần phạm tội này bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự là người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên áp dụng thêm khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách hình sự, nên khi lượng hình cần xem xét để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Căn cứ vào tính chất hành vi phạm tội của bị cáo. Hội đồng xét xử, xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, trước khi phạm tội có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên chưa cần cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương cũng có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người tốt có ích cho xã hội.

. Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo Trương Sỹ A cùng với S1, L, Q, S, B đã tự nguyện bồi thường cho anh Nguyễn Văn H số tiền 80.000.000đ, anh H đã nhận đủ và không yêu cầu bị cáo A phải bồi thường thêm khoản tiền gì khác, nên HĐXX không xem xét mà chỉ xác nhận.

. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 mẩu gạch; 01 con gậy sắt dài 67cm

. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Đối với Trương Sỹ B, Trần Ngọc L, Lê Văn S, Bùi Xuân Q, Bùi Ngọc S1 trước đó cũng như trong suốt quá trình đánh anh H, không bàn bạc gì với A về việc đánh anh H. Việc A dùng gạch ném gây thương tích cho anh H nhóm B, S, Q, L, S cũng không biết. Do vậy không có đủ cơ sở để xác định đồng phạm đối với B, S, Q, L và S1. Tuy nhiên trong quá trình xô xát B, S, Q, L và S1 có dùng tay chân đấm đá anh H, L có dùng gậy sắt vụt vào chân anh H, nhưng không để lại thương tích. Do vậy, ngày 17/8/2018, Công an huyện Cẩm Khê đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với B, S, Q, L, S1 về hành vi “Xâm hại sức khỏe đối với người khác” là đúng quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Trương Sỹ A phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Áp dụng điểm đ khoản 2 điều 134, điểm b,s khoản 1,khoản 2 điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Trương Sỹ A 03(Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05(Năm năm), thời hạn thử thách kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Trương Sỹ A cho UBND xã T, huyện C, tỉnh Phú Thọ giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về trách nhiệm dân sự: Xác nhận anh Nguyễn Văn y đã nhận số tiền 80.000.000đ do bị cáo Trương Sỹ A cùng với Trương Sỹ B, Trần Ngọc L, Lê Văn S, Bùi Xuân Q, Bùi Ngọc S1 bồi thường.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dông điểm a kho¶n 1 ®iÒu 47 Bé luËt h×nh sù; ®iÓm a kho¶n 2 ®iÒu 106 bé luËt tè tông h×nh sù.

Tịch thu tiêu hủy 01 mẩu gạch; 01 gậy sắt dài 67cm, theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 27/9/2018 giữa Công an huyện Cẩm Khê và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê.

4. Về án phí: ¸p dông khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị Quyết số 326/2016-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trương Sỹ A phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người bị hại, người có nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Cỡ chữ