vanban.org

Bản án 50/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh H đối với bị đơn ông Nguyễn Sĩ Đ.

1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh H đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Sĩ Đ (theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 47/2013, quyển số 01/2013 Ủy ban nhân dân xã Đức Phú, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 09/5/2013). 2 Về con chung, cấp dƣỡng nuôi con: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Ngọc Yến N, sin… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Nguyễn Thị Thanh H, bị đơn Nguyễn Sĩ Đ"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh H đối với bị đơn ông Nguyễn Sĩ Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
——————————
Bản án số: 50 /2018/HNGĐ-ST
Ngày 11-5-2018
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Linh.

Các Hội thẩm nhân dân:

1.Ông Phan Văn Cƣờng.

2.Ông Ngô Văn Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Nhung-Thƣ ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liễu - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 25/2018/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2018 về tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 41/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/3/2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2018/QĐST-HNGĐ ngày 18/4/2018, giữa các đƣơng sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1992; thƣờng trú: Thôn H xã T, huyện H, tỉnh Khánh Hòa; tạm trú: Khu phố Đ4, phƣờng B, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Sĩ Đ, sinh năm 1988; thƣờng trú: Xã P huyện Đ, tỉnh Quảng Ngãi; tạm trú: Khu phố Đ4, phƣờng B, thị xã , tỉnh Bình Dƣơng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 12 năm 2017 và quá trình tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh H trình bày:

- Về hôn nhân: Bà H và ông Nguyễn Sỹ Đ tự tìm hiểu yêu thƣơng khoảng thời gian 04 năm rồi tiến đến hôn nhân. Bà và ông Đ làm chứng nhận kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Đức Phú, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi ngày 09/5/2013 (giấy chứng nhận kết hôn số 47/2013, quyển số 01/2013) việc kết hôn là tự nguyện và đƣợc sự đồng ý của hai bên gia đình. Sau khi kết hôn, vợ chồng đến thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng ở trọ xin việc làm. Bà làm công nhân tại Công ty Dano Vina, thu nhập bình quân 01 tháng 6.000.000 đồng, ông Đ làm thợ xây dựng thu nhập bao nhiêu bà không rõ. Từ khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn do ông Đ có quan hệ tình cảm với ngƣời phụ nữ khác, không quan tâm gia đình, không cùng bà chăm sóc con. Bà khuyên ông Đ thay đổi và cho ông cơ hội nhƣng ông Đ không thay đổi, từ cuối năm 2015 vợ chồng sống ly thân, không quan tâm chăm sóc nhau. Nay xác định tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt đƣợc, bà yêu cầu đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Sĩ Đ.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Yến N, sinh ngày 10/4/2013. Hiện cháu N đang do bà nuôi dƣỡng, khi ly hôn bà yêu cầu đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng cháu N và không yêu cầu ông Đ cấp dƣỡng nuôi con.

Tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn ông Nguyễn Sĩ Đ: Quá trình tố tụng Tòa án đã triệu tập ông Đ yêu cầu cung cấp bản tự khai ngày 25/01/2018, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải ngày 09/3/2018; tham gia phiên tòa vào ngày 18/4/2018, 11/5/2018 nhƣng ông Đ vắng mặt không lý do, không có ý kiến đối với yêu cầu của bà H và cũng không cung cấp tài liệu chứng cứ cho Tòa án.

Tại biên bản xác minh nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà H và ông Đ do Tòa án tiến hành ngày 05/01/2018, chính quyền địa phƣơng cung cấp thông tin nhƣ sau: Bà H và ông Đ trƣớc khi nộp đơn khởi kiện xin ly hôn tại Tòa án bà H không yêu cầu chính quyền địa phƣơng tổ chức hòa giải cơ sở. Quá trình chung sống thực tế mâu thuẫn giữa hai vợ chồng, vấn đề chăm sóc, nuôi dạy con chung chính quyền địa phƣơng không nắm rõ, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An tham gia phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán đƣợc phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã đƣợc thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng Dân sự, tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 về việc xét xử sơ thẩm vụ án.

Sự chấp hành pháp luật của đƣơng sự: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự và các quy định pháp luật liên quan. Bị đơn vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy yêu cầu ly hôn và đƣợc nuôi con của nguyên đơn là có cơ sở theo quy định pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đƣợc công bố tại phiên tòa, Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An nhận định:

Về thẩm quyền giải quyết: Bà Nguyễn Thị Thanh H khởi kiện yêu cầu giải quyết việc hôn nhân, con chung giữa bà với ông Nguyễn Sĩ Đ tạm trú tại số khu phố Đ4, phƣờng B, thị xã K, tỉnh Bình Dƣơng. Vì vậy, đây là vụ án tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã triệu tập và niêm yết hợp lệ đối với bị đơn ông Nguyễn Sĩ Đ tham gia phiên tòa vào các ngày 18/4/2018, 11/5/2018, ông Đ vắng mặt không có lý do. Bà Nguyễn Thị Thanh H có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227 và 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 Tòa án xét xử vắng mặt bà H và ông Đ.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh H và ông Nguyễn Sĩ Đ có chứng nhận kết hôn (số 47/2013, quyển số 01/2013 tại Ủy ban nhân dân xã Đức Phú, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi ngày 09/5/2013). Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa bà H, ông Đ hợp pháp.

Về nội dung yêu cầu ly hôn bà Nguyễn Thị Thanh H: Qua trình bày của bà H thể hiện việc ông Nguyễn Sĩ Đ có quan hệ tình cảm với ngƣời phụ nữ khác, không quan tâm, chăm lo cho gia đình về mặt tình cảm, vật chất nên vợ chồng thƣờng xuyên cãi nhau, bà H và ông Đ sống ly thân từ năm 2015 đến nay. Mục đích của hôn nhân là nhằm xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, hạnh phúc, để đạt đƣợc mục đích trên vợ chồng phải chung thủy, thƣơng yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ và tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt. Xét, mục đích hôn nhân giữa bà H và ông Đ không đạt đƣợc nên yêu cầu xin ly hôn của bà H là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị Thanh H và ông Nguyễn Sĩ Đ có 01 con chung tên Nguyễn Ngọc Yến N, sinh ngày 10/4/2013. Bà H yêu cầu đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng con chung và không yêu cầu ông Đ phải cấp dƣỡng nuôi con chung. Xét, từ khi bà H, ông Đ ly thân cháu N do bà H chăm sóc nuôi dƣỡng, quá trình tố tụng không làm việc đƣợc với ông Đ, hiện bà H có thu nhập và công việc ổn định, vì vậy yêu cầu trên của bà H đƣợc chấp nhận, việc này phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà H không yêu cầu giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

Từ những phân tích trên, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An là có cơ sở chấp nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 144, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ vào các Điều 56, Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh H đối với bị đơn ông Nguyễn Sĩ Đ.

1.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh H đƣợc ly hôn với ông Nguyễn Sĩ Đ (theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 47/2013, quyển số 01/2013 Ủy ban nhân dân xã Đức Phú, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 09/5/2013).

1.2 Về con chung, cấp dƣỡng nuôi con: Tiếp tục giao cháu Nguyễn Ngọc Yến N, sinh ngày 10/4/2013 cho bà Nguyễn Thị Thanh H trực tiếp nuôi dƣỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà H tạm thời không yêu cầu ông Nguyễn Sĩ Đ cấp dƣỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn bà Nguyễn Thị Thanh H và ông Nguyễn Sĩ Đ đều có quyền và nghĩa vụ đối với con chung theo quy định của pháp luật. Bà H phải tạo điều kiện cho ông Đ trong việc thăm nom, chăm sóc con. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể quyết định thay đổi ngƣời trực tiếp nuôi con và mức cấp dƣỡng nuôi con.

1.3 Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Nguyễn Thị Thanh H không yêu cầu nên Tòa án không xem xét giải quyết.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn đƣợc khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0018744 ngày 04 tháng 01 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dƣơng.

Bà Nguyễn Thị Thanh H và ông Nguyễn Sĩ Đ vắng mặt đƣợc quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mƣời lăm) ngày kể từ nhận đƣợc bản án hoặc bản án đƣợc niêm yết

Cỡ chữ