vanban.org

Bản án 50/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hoài Th được ly hôn anh Nguyễn Duy H.

Về con chung: Công nhận chị Nguyễn Thị Hoài Th và anh Nguyễn Duy H có 01 con chung là cháu Nguyễn Anh M, sinh ngày 09/5/2015. Giao cháu M cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị Th. Anh H không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hoài Th được ly hôn anh Nguyễn Duy H.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH THANH HÓA.
Bản án số: 50/2018/ HNGĐ-ST
Ngày: 16/7/2018
V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ- TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm"phán"-"Chủ"toạ"phiên"toà:"Bà Trương Thị Anh

Các"Hội"thẩm"nhân"dân:""""""""1. Ông Lê Cát Tưởng "

"""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""""" 2. Bà Nguyễn Thị Minh Thảo. "

- Thư ký phiên toà:" Bà Lương Thị Ngọc Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hoá tham"gia"phiên"toà: Bà Hoàng Thị Ngọc An - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 89/2018/TLST- HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2018 về tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2018, Quyết định hoãn phiên tòa số 48/2018 ngày 27/6/2018 giữa các đương sự:

"Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Hoài Th - Sinh năm 1990

Địa chỉ: Đường Th, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa.

Bị đơn: Anh Nguyễn Duy Hưng - Sinh năm 1988. Địa chỉ: Đường P, phường Th, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo"đơn"khởi"kiện"cùng"các"tài"liệu"chứng"cứ"khác"có trong"hồ"sơ"vụ"án," nguyên"đơn"chị"Nguyễn"Thị"Hoài"Th"trình"bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Duy H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 03/02/2015 tại UBND phường Đ, thành phố H, tỉnh Thanh Hóa và có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống với nhau hạnh phúc chỉ một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không cùng quan điểm sống, tính tình không hợp nên thường xuyên cãi vã lẫn nhau. Từ tháng 4 năm 2017, chị Th đã bỏ về nhà mẹ đẻ để ở, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Mâu thuẫn vợ chồng cũng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng không được cải thiện. Nay chị Th xác định tình cảm giữa chị và anh H không còn, nên đề nghị Toà án nhân dân thành phố H giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Duy H.

- Về con chung: Chị và anh Nguyễn Duy H có 01 con chung là cháu Nguyễn Anh M, sinh ngày 09/5/2015. Hiện nay cháu đang ở với chị. Nguyện vọng của chị Th khi ly hôn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Anh M, chị yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000đ cho đến khi cháu M đủ 18 tuối. Tại phiên tòa, chị Th xin rút một phần yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thông báo thụ lý vụ án cho bị đơn là anh Nguyễn Duy H và tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật; Triệu tập anh H đến Toà án để tự khai cũng như tham gia phiên hoà giải. Anh H đã được tống đạt các văn bản tố tụng, truyền đạt nội dung các văn bản nhưng anh H từ chối ký nhận văn bản. Anh H cũng không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu ly hôn của chị Th.

Toà án đã lập biên bản về việc đương sự vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Theo yêu cầu của chị Th, Toà án tiến hành thu thập chứng cứ. Tại biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân của vợ chồng do địa phương cung cấp thể hiện: Chị Th và anh H kết hôn năm 2015 và có đăng ký kết hôn tại UBND phường Đ, thành phố H. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại số nhà 08/16 phố Th , phường Đ. Quá trình chung sống vợ chồng hay xảy ra cãi vã. Chị Th đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở còn anh H vẫn sống tại số nhà 08/16 phố Nguyễn Thị Th. Hiện nay anh H đang có mặt tại địa phương. Chị Th và anh H có 01 con chung là cháu Nguyễn Anh M, sinh năm 2015. Hiện nay cháu đang ở với mẹ. Nay chị Th có đơn xin ly hôn, đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Tại phiên tòa, chị Th yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H, yêu cầu được trực tiếp nuôi con và không yêu cầu anh H phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân thành phố H tại phiên tòa:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều tuân theo các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ thời điểm thụ lý vụ án đến nay đã thực hiện đúng và đầy đủ theo quy định của pháp luật.

Đối với bị đơn: Tòa án đã thực hiện tống đạt hợp lệ nhiều lần đối với bị đơn nhưng anh H không chấp hành nên Tòa án xét xử vắng mặt là đúng quy định.

Quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Hoài Th. Giao cháu Nguyễn Anh M cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng, anh H không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định: [1] Về tố tụng: Bị đơn là anh Nguyễn Duy H vắng mặt tại phiên tòa, anh H đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt. Chị Th đề nghị Toà án tiến hành xét xử vụ án, nên Toà án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết vắng mặt anh H là phù hợp quy định của pháp luật. [2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hoài Th và anh Nguyễn Duy H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng chỉ hạnh phúc một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng thường xuyên cãi vã lẫn nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hai bên gia đình hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không được cải thiện. Từ tháng 4 năm 2017 chị Th đã bỏ về nhà mẹ đẻ ở, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, anh H cũng không quan tâm, thăm hỏi vợ con.

Theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chung xây cuộc sống, hạnh phúc gia đình, nhưng ở đây chị Th và anh H đã không còn tình cảm và trách nhiệm với nhau; Vợ chồng đã sống ly thân và hai bên không quan tâm đến cuộc sống của nhau.

Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã phân tích, động viên chị Th nên suy nghĩ kỹ trước khi quyết định việc ly hôn nhưng chị Th vẫn cương quyết xin ly hôn anh H. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập anh H nhiều lần để hòa giải nhưng anh H vẫn vắng mặt, chứng tỏ anh H không có thiện chí để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng. Xét thấy mâu thuẫn đã trầm trọng, kéo dài, mục đích hôn nhân giữa hai vợ chồng không đạt được. Do đó nếu buộc anh, chị về đoàn tụ thì cuộc sống vợ chồng cũng không thể cải thiện được nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị Hoài Th về việc xin ly hôn anh Nguyễn Duy H. [3] Về con chung: Chị Th và anh H có 01 con chung là cháu Nguyễn Anh M, sinh ngày 09/5/2015. Hiện nay cháu đang còn nhỏ và ở với chị. Nguyện vọng của chị Th khi ly hôn được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Anh M, chị không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con chung .

Anh H không chấp hành theo giấy triệu tập của Tòa án, không tham gia phiên hòa giải, không có ý kiến về con chung. Cháu M còn nhỏ cần có sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ. Hiện nay chị Th là người đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu. Để đảm bảo cuộc sống, sinh hoạt, học tập của cháu, yêu cầu của chị Th là chính đáng, nên thấy việc giao cháu M cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp pháp luật. Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Th. [4] Về việc rút một phần yêu cầu khởi kiện: Tại phiên tòa chị Th xin rút yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của chị Th là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu này, theo quy định tại khoản 2 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó anh H không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung. [5] Về tài sản: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. [6] Về án phí: Chị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, Khoản 2 Điều 244; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 57, Điều 81, Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Tòa án;

- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hoài Th được ly hôn anh Nguyễn Duy H.

- Về con chung: Công nhận chị Nguyễn Thị Hoài Th và anh Nguyễn Duy H có 01 con chung là cháu Nguyễn Anh M, sinh ngày 09/5/2015. Giao cháu M cho chị Th trực tiếp nuôi dưỡng.

Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của chị Th. Anh H không phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.

Anh Nguyễn Duy H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

- Về tài sản: Chị Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.

-"Về"án phí:"Chị Nguyễn Thị Hoài Th phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ đã nộp theo biên lai số 0004946 ngày 27/3/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố H. Chị Th đã nộp đủ.

Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Hoài Th có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, anh Nguyễn Duy H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ