vanban.org

Bản án 499/2023/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 04/07/2023 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/07/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng Thế L; giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 182/2022/HC-ST ngày 21/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh TP.

Về án phí: Ông Hoàng Thế L không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "NKK Ông Hoàng Thế L - NBK UBND tỉnh TB"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng Thế L; giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 182/2022/HC-ST ngày 21/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh TP.
  • Căn cứ chính? Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 158 Luật Tố tụng hành chính
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 499/2023/HC-PT
Ngày: 04/7/2023
V/v khiếu kiện quyết định hành chính.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Bình;

Các Thẩm phán: Ông Trần Quang Minh;

Ông Võ Hồng Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Nguyệt, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Bà Lê Thị Thu Hà, Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 04 tháng 7 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và tại điểm cầu thành phần Tòa án nhân dân tỉnh TP, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử trực tuyến, công khai vụ án vụ án hành chính thụ lý số 28/2023/TLPT-HC ngày 04 tháng 01 năm 2023 về việc “Khiếu kiện quyết định hành chính”, do có kháng cáo của người khởi kiện đối với Bản án hành chính sơ thẩm số 182/2022/HC-ST ngày 21 tháng 9 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh TP.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3234/2023/QĐ-PT ngày 17 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, vụ án có các đương sự sau:

1. Người khởi kiện: Ông Hoàng Thế L, sinh năm 1956; địa chỉ: Thôn PK, xã VP, thành phố TP, tỉnh TP; có mặt.

2. Người bị kiện:

2.1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh TP.

Đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh TP: Ông Lại Văn H - Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh TP; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và L ích hợp pháp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh TP: Ông Nguyễn Tiến S - Chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước, Sở Tư pháp tỉnh TP; có mặt.

2.2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố TP, tỉnh TP.

Đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố TP: Ông Nguyễn Văn Đ - Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố TP, tỉnh TP; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

2.3. Ủy ban nhân dân thành phố TP, tỉnh TP.

Đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Gia D - Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố TP, tỉnh TP.

Đại diện theo ủy quyền của ông Đinh Gia D: Ông Nguyễn Văn Đ - Chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố TP, tỉnh TP; vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và L ích hợp pháp cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố TP và Ủy ban nhân dân thành phố TP: Ông Phạm Đình Thân - Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường Ủy ban nhân dân thành phố TP, tỉnh TP; vắng mặt.

3. Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Hoàng Thị D, sinh năm 1954 và anh Hoàng Văn T1, sinh năm 1985; Đều trú tại: Thôn PK, xã VP, thành phố TP, tỉnh TP.

2. Anh Hoàng Phi L2, sinh năm 1982

Địa chỉ: Thôn Kiền Kiền, xã L Hải, huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận.

Người đại diện theo ủy quyền của bà D, anh T1, anh L2: Ông Hoàng Thế L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo người khởi kiện trình bày: Hộ gia đình ông gồm có ông là Hoàng Thế L, vợ ông bà Hoàng Thị D và các con Hoàng Văn T1, Hoàng Phi L2. Hộ gia đình ông được chia tiêu chuẩn ruộng 04 khẩu gồm ông, vợ và hai con diện tích khoảng 1.728m2; tất cả diện tích ruộng của gia đình đều được chia ở ngoài đồng và không phân định rõ của từng người. Ngày 5/8/2016, Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố TP ban hành Kế hoạch số 105/KH-UBND thu hồi 280.924,3m2 đất thuộc địa giới hành chính xã VP và phường PK, thành phố TP. Gia đình ông bị thu hồi 1.263,5m2 (3,5 sào) tại thửa 140, tờ bản đồ số 11 diện tích 112,5 m2, thửa số 333, tờ bản đồ số 12 diện tích 1.052m2, thửa 219, tờ bản đồ số 12 diện tích 99m2 địa chỉ thôn PK, xã VP, thành phố TP; diện tích đất bị thu hồi là tiêu chuẩn ruộng của cả hộ gia đình ông. Theo phương án bồi thường của UBND thành phố TP thì gia đình ông được bồi thường, hỗ trợ 258.365.500 đồng tương đương 73.818.714 đồng/sào; thực tế hộ gia đình ông được nhận số tiền 367.500.000 đồng tương đương 105.000.000 đồng/sào; số tiền bồi thường trị giá đất còn không có tài sản xây dựng và cây cối, hoa màu trên đất; ông nhận số tiền bồi thường vào khoảng tháng 9/2018. Theo thông báo thu hồi đất, ông được biết UBND thành phố TP sử dụng đất của gia đình ông vào mục đích phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên, sau khi thu hồi đất, UBND thành phố TP giao cho Công ty Cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu Thăng L2 thực hiện dự án với tên gọi “Khu đô thị mới xã VP, thành phố TP” trong khi tại Danh mục các công trình dự án sử dụng đất năm 2013 tỉnh TP (Ban hành kèm theo Công văn số 2824/BTNMT-TLQLĐĐ ngày 27/4/2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất trồng lúa để thực hiện các công trình, dự án trên địa bàn tỉnh TP), dự án tại xã VP, thành phố TP là “Dự án khu đô thị, thương mại dịch vụ”.

Quá trình thực hiện, Công ty Cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu Thăng L2 đã thực hiện phân lô, bán nền khu đất dự án. Căn cứ quy định tại Điều 62 Luật Đất đai năm 2013, dự án Công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu Thăng L2 thực hiện không thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất mà thuộc trường hợp Doanh nghiệp phải tự thỏa thuận, thương lượng với người dân trên cơ sở giao dịch dân sự quy định tại Điều 73 Luật Đất đai năm 2013. Mặt khác, quá trình thu hồi, bồi thường hỗ trợ tái định cư do UBND thành phố TP thực hiện tồn tại nhiều sai phạm, số tiền bồi thường chi trả cho các hộ dân được áp dụng nhiều mức giá khác nhau, ông và các hộ gia đình đã có ý kiến với UBND xã và chính quyền thôn nhưng UBND xã và cán bộ thôn ép gia đình ông buộc phải nhận số tiền bồi thường. Khoảng đầu năm 2019, còn lại 40 hộ gia đình không đồng ý giao đất và nhận tiền bồi thường theo phương án bồi thường hỗ trợ giải phóng mặt bằng của UBND thành phố thì các hộ này được bồi thường tiền thu hồi ruộng cao nhất là 175.000.000 đồng/sào. Do thấy việc bồi thường thu hồi ruộng của mọi người khác nhau, những người chấp hành giao ruộng sớm thì được bồi thường thấp, những người không chấp hành thì được bồi thường cao. Chính vì vậy, ông và 200 hộ gia đình cùng làm đơn khiếu nại gửi UBND thành phố TP đề nghị xem xét lại Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016 của UBND thành phố TP về phương án bồi thường giải phóng mặt bằng. Ngày 17/9/2020, Chủ tịch UBND thành phố TP ban hành Quyết định số 3272/QĐ-UBND giải quyết không chấp nhận khiếu nại của ông và các hộ gia đình đối với Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016 của UBND thành phố TP về Phương án bồi thường giải phóng mặt bằng. Không nhất trí với Quyết định số 3272/QĐ-UBND, ông và các hộ tiếp tục khiếu nại lên Chủ tịch UBND tỉnh TP. Ngày 05/02/2021, Chủ tịch UBND tỉnh TP ban hành Quyết định số 520/QĐ-UBND giữ nguyên Quyết định số 3272/QĐ-UBND. Việc Chủ tịch UBND thành phố TP và Chủ tịch UBND tỉnh TP ban hành Quyết định số 3272/QĐ-UBND và Quyết định số 520/QĐ-UBND đã ảnh hưởng đến quyền L của gia đình ông và các hộ gia đình tại thôn PK và thôn Phúc Thượng, vị trí ruộng của các gia đình như nhau, gia đình ông chấp hành theo quy định của Nhà nước thì được bồi thường số tiền thấp còn các hộ gia đình không chấp hành thì lại được bồi

thường số tiền cao, các hộ gia đình nhận tiền sau không đúng với số tiền bồi thường trong phương án hỗ trợ giải phóng mặt bằng do UBND thành phố quyết định. Vì vậy, ông khởi kiện đề nghị Tòa án hủy các quyết định sau:

- Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố TP về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng.

- Quyết định số 3272/QĐ-UBND ngày 17/9/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố TP giải quyết khiếu nại của bà Hoàng Thị Tươi, bà Đặng Thị Bê (Mai), ông Hoàng Hải Huân, bà Hoàng Thị Tròn đại diện cho một số hộ gia đình, cá nhân thôn PK, thôn Phúc Thượng, xã VP thành phố TP (lần đầu).

- Quyết định số 520/QĐ-UBND ngày 05/02/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh TP về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) của bà Hoàng Thị Tươi cùng 04 công dân đại diện cho một số hộ gia đình, cá nhân thôn PK, thôn Phúc Thượng, xã VP, thành phố TP đối với Quyết định số 3272/QĐ-UBND ngày 17/9/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố TP về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu).

Theo người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố TP, Ủy ban nhân dân thành phố TP trình bày:

1. Về căn cứ, thẩm quyền thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng: Dự án Khu dân cư mới xã VP, thành phố TP đã được UBND tỉnh TP phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 tại Quyết định số 1717/QĐ-UBND ngày 30/7/2012 và được Thủ tướng Chính phủ cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa sang loại đất khác để thực hiện dự án tại Văn bản số 1489/TTg-KTN ngày 23/9/2013. UBND tỉnh TP có Văn bản số 2124/UBND-MCLT ngày 30/6/2015 chấp thuận chủ đầu tư dự án. Hội đồng nhân dân tỉnh TP có Nghị quyết số 30/2015/NQ-HĐND ngày 09/12/2015 phê duyệt danh mục dự án cần thu hồi đất để phát triển kinh tế, xã hội vì L ích quốc gia, công cộng.

Căn cứ quy định tại Điều 62, Điều 66 và Điều 69 Luật Đất đai năm 2013. Quyết định số 1793/QĐ-UBND ngày 06/8/2014 của UBND tỉnh TP về việc ủy quyền thu hồi đất, phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư, UBND thành phố TP đã ban hành Quyết định thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân và các Quyết định: số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016, số 5458/QĐ-UBND ngày 19/12/2018, số 1185/QĐ-UBND ngày 04/5/2019, số 1649/QĐ-UBND ngày 17/5/2019, số 2282/QĐ-UBND ngày 03/7/2019 phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng để thực hiện dự án (trong đó có hộ ông Hoàng Thế L) là đúng căn cứ, đúng thẩm quyền quy định.

2. Về trình tự, thủ tục và chế độ chính sách bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: Ngày 05/8/2016, UBND thành phố TP ban hành Kế hoạch số 105/KH-UBND về việc thu hồi đất. UBND thành phố TP đã ban hành các thông báo thu hồi đất và gửi đến người có đất bị thu hồi thuộc dự án theo quy định. Ngày 31/8/2016 và ngày 11/9/2016, Trung tâm Phát triển Quỹ đất thành phố phối hợp với UBND xã VP, cơ sở thôn, các đơn vị có liên quan và đại diện các hộ dân có đất bị thu hồi họp để triển khai công tác giải phóng mặt bằng dự án; trong đó: đã triển khai kế hoạch, thông báo thu hồi đất, các quy định của pháp luật về giải phóng mặt bằng. Sau khi thống kê diện tích, chủ sử dụng đất, tỷ lệ đất nông nghiệp thu hồi, nhân khẩu nông nghiệp của các hộ gia đình, cá nhân thuộc dự án, kiểm đếm tài sản, cây trồng trên đất. Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố TP đã lập phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng phối hợp với UBND xã VP, cơ sở các thôn tổ chức niêm yết công khai dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ theo quy định.

Xét đề nghị của các phòng, ban, đơn vị liên quan, UBND thành phố TP đã ban hành các Quyết định thu hồi đất của các hộ gia đình, cá nhân thuộc dự án và ban hành các Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng (Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016, số 5484/QĐ-UBND ngày 19/12/2018, Quyết định số 1185/QĐ-UBND ngày 04/5/2019, Quyết định số 1649/QĐ-UBND ngày 17/5/2019, Quyết định số 2282/QĐ-UBND ngày 3/7/2019) theo quy định. Các Quyết định thu hồi đất được gửi tới các hộ dân. Phương án bồi thường, hỗ trợ được thực hiện lập, phê duyệt theo đúng đơn giá quy định tại Quyết định số 3077/QĐ-UBND ngày 19/12/2014, Quyết định 215/QĐ-UBND ngày 21/01/2016, Quyết định số 08/2014/QĐ-UBND ngày 30/6/2014 của UBND tỉnh TP và thống nhất chung cho tất cả các hộ dân trong cùng dự án và được thực hiện niêm yết công khai theo quy định. Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố TP đã phối hợp với UBND xã VP thông báo và tổ chức chi trả tiền bồi thường, hỗ trợ cho các hộ dân (trong đó có hộ ông Hoàng Thế L) theo đúng phương án được phê duyệt.

3. Về việc thực hiện chính sách hỗ trợ khác trong công tác giải phóng mặt bằng cho các hộ gia đình cá nhân có đất nông nghiệp tại xã có đất bị thu hồi từ 1.093 m2 trở lên: Thực hiện Văn bản số 3089/UBND-KTTNMT ngày 29/6/2020 của UBND tỉnh TP về hỗ trợ khác trong công tác giải phóng mặt bằng trên địa bàn thành phố TP, UBND Thành phố đã có Quyết định số 3562/QĐ-UBND ngày 01/10/2020 phê duyệt phương án hỗ trợ khác trong công tác giải phóng mặt bằng dự án xây dựng khu dân cư mới xã VP và thực hiện chi trả tiền theo quy định (trong đó có hộ ông Hoàng Thế L).

4. Về việc thay đổi tên dự án: Tại số thứ tự 154, danh mục các công trình, dự án sử dụng đất năm 2013 tỉnh TP ban hành kèm theo Công văn số 2824/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 24/7/2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc chuyển mục đích trồng lúa trên địa bàn tỉnh TP (được Thủ tướng Chính phủ đồng ý chấp thuận tại Văn bản số 1489/TTg-KNT ngày 29/3/2013) tên dự án, công trình là dự án “Khu đô thị, thương mại, dịch vụ xã VP, thành phố TP” tổng diện tích 31ha, trong đó đất trồng lúa 25,7ha. Tại Quyết định số 1717/QĐ-UBND ngày 30/7/2012 của UBND tỉnh TP về việc phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 khu dân cư VP, thành phố TP dự án có tổng diện tích đất quy hoạch là 31ha. Về thực chất “Khu đô thị, thương mại, dịch vụ xã VP, thành phố TP” hay “Khu dân cư VP, thành phố TP” đều là một dự án “Khu dân cư mới xã VP, thành phố TP”, vì dự án cùng một vị trí, địa điểm, diện tích và tại mục căn cứ xem xét, thẩm định dự án trình Thủ tướng Chính phủ có nêu Quyết định số 1717/QĐ-UBND ngày 30/7/2012 của UBND tỉnh TP.

5. Về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của Chủ tịch UBND Thành phố: Không nhất trí với đơn giá bồi thường, hỗ trợ một số hộ dân có đất thu hồi tại dự án có đơn khiếu nại gửi UBND Thành phố. Theo đơn khiếu nại đề ngày 28/5/2020 và nội dung làm việc ngày 11/6/2020 của Thanh tra thành phố TP, bà Hoàng Thị Tươi cùng 04 công dân đại diện cho một số hộ dân thôn PK, thôn Phúc Thượng, xã VP khiếu nại Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016, Quyết định số 1185/QĐ-UBND ngày 04/5/2019, Quyết định số 1649/QĐ-UBND ngày 17/5/2019, Quyết định số 2282/QĐ-UBND ngày 03/7/2019 của UBND thành phố TP về việc phê duyệt Phương án bỗi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án xây dựng “Khu dân cư mới xã VP, thành phố TP” với lý do Quyết định về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng được ban hành trái thẩm quyền. Việc bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng vi phạm khoản 3 Điều 74 Luật Đất đai năm 2013. Quy trình thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng không được công khai, minh bạch, không rõ ràng là dự án Nhà nước thu hồi đất hay tư nhân thu hồi đất.

Xem xét giải quyết khiếu nại của các hộ dân, ngày 03/7/2020, UBND thành phố TP có Thông báo số 590/TB-UBND thụ lý giải quyết khiếu nại. Ngày 20/7/2020, Chủ tịch UBND thành phố TP ban hành Quyết định số 2411/QĐ-UBND về việc xác minh nội dung khiếu nại (lần đầu) của bà Hoàng Thị Tươi và một số công dân thôn PK, thôn Phúc Thượng, xã VP. Ngày 09/7/2020, Chủ tịch UBND thành phố TP ban hành Quyết định số 2323/QĐ-UBND ủy quyền cho Phó Chủ tịch UBND thành phố TP giải quyết khiếu nại. Ngày 13/8/2020, Chủ tịch UBND thành phố TP ký ban hành Quyết định số 1842/QĐ-UBND gia hạn thời gian giải quyết khiếu nại, thời gian gia hạn giải quyết khiếu nại là 15 ngày làm việc, kể từ ngày 13/8/2020. Ngày 08/9/2020, Đoàn xác minh theo Quyết định số 2411/QĐ-UBND ngày 20/7/2020 đã phối hợp với các đơn vị liên quan làm việc và lập Biên bản đối thoại với bà Hoàng Thị Tươi và một số công dân thôn PK, thôn Phúc Thượng, xã VP về nội dung giải quyết khiếu nại. Ngày 30/6/2020, Đoàn xác minh có Báo cáo số 03/BC-ĐXM về kết quả xác minh nội dung khiếu nại của bà Hoàng Thị Tươi và một số công dân thôn PK, thôn Phúc Thượng, xã VP. Ngày 17/9/2020, Phó Chủ tịch UBND thành phố TP (theo Quyết định ủy quyền số 2323/QĐ-UBND ngày 09/7/2020) đã ký Quyết định số 3272/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của bà Hoàng Thị Tươi và một số công dân thôn PK, thôn Phúc Thượng, xã VP và kết luận giữ nguyên nội dung Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016, Quyết định số 1185/QĐ-UBND ngày 04/5/2019, Quyết định số 1649/QĐ-UBND ngày 17/5/2019 và Quyết định số 2282/QĐ-UBND ngày 03/7/2019 của UBND thành phố TP về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án xây dựng “Khu dân cư mới xã VP, thành phố TP”.

Việc giải quyết khiếu nại vụ việc nêu trên của Chủ tịch UBND thành phố TP là đảm bảo quy định của Luật Khiếu nại ngày 11/11/2011, Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Khiếu nại, Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính, Thông tư số 02/2016/TT-TTCP ngày 20/10/2016 của Thanh tra Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ quy định quy trình giải quyết khiếu nại hành chính.

Vì các căn cứ nêu trên, Chủ tịch UBND thành phố TP, UBND thành phố TP khẳng định toàn bộ quá trình thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng và giải quyết khiếu nại liên quan đến đất thu hồi tại dự án “Khu dân cư mới xã VP, thành phố TP” đã được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Do đó, một số công dân xã VP khiếu kiện các quyết định hành chính của UBND thành phố TP, UBND tỉnh TP là không có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Theo người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh TP trình bày:

1. Về thẩm quyền giải quyết khiếu nại (lần hai): Chủ tịch UBND dân tỉnh TP thụ lý giải quyết khiếu nại (lần hai) của các công dân đối với Quyết định số 3272/QĐ-UBND ngày 17/9/2020 của Chủ tịch UBND thành phố TP là bảo đảm đúng quy định tại khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 40 Luật Khiếu nại năm 2011 và khoản 7 Điều 22 Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015.

2. Về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại (lần hai): Sau khi nhận đơn khiếu nại của các công dân, Chủ tịch UBND tỉnh TP thực hiện thụ lý, thông báo cho các công dân và giao Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh TP xác minh nội dung khiếu nại. Tổ chức đối thoại với các công dân theo quy định trước khi ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại (lần hai). Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại (lần hai) nêu trên bảo đảm theo đúng quy định của Luật Khiếu nại năm 2011; Nghị định số 75/2012/NĐ-CP ngày 03/10/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và thi hành một số điều của Luật Khiếu nại; Nghị định số 124/2020/NĐ-CP ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Khiếu nại.

3. Về nội dung trong đơn khiếu nại của các công dân: Căn cứ Báo cáo số 322/BC-STNMT ngày 30/12/2021 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh TP về kết quả xác minh nội dung khiếu nại của bà Hoàng Thị Tươi cùng 04 công dân đại diện cho một số hộ dân thôn PK, thôn Phúc Thượng, xã VP, thành phố TP đối với Quyết định số 3272/QĐ-UBND ngày 17/9/2020 của Chủ tịch UBND phố TP về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu), Chủ tịch UBND tỉnh đã giải quyết, làm rõ các nội dung trong đơn khiếu nại của các công dân, cụ thể như sau:

Thứ nhất, về nội dung “Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố TP vi phạm thời hạn giải quyết khiếu nại, cụ thể. Thời gian giải quyết khiếu nại vượt 30 ngày so với quy định tại Điều 28 Luật Khiếu nại năm 2011”.

Trong Quyết định số 520/QĐ-UBND đã nhận định đây là khiếu nại đúng. Tuy nhiên, tồn tại, hạn chế về thời gian giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND thành phố TP không thay đổi bản chất vụ việc và quyền L của người dân về các chế độ, chính sách bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất đã được đảm bảo theo quy định của pháp luật.

Thứ hai, về nội dung “Quyết định số 3272/QĐ-UBND ngày 17/9/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố TP bác toàn bộ nội dung khiếu nại (lần đầu) của công dân, giữ nguyên các quyết định về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng xây dựng khu đô thị mới xã VP là không phù hợp với quy định của pháp luật;

- Quyết định số 3272/QĐ-UBND ngày 17/9/2020 chưa giải quyết chính sách an sinh cho các hộ dân bị thu hồi đất nông nghiệp từ 1.093 m2 trở lên;

- Quyết định số 3272/QĐ-UBND ngày 17/9/2020 chưa làm rõ hình thức đầu tư BT của dự án khu dân cư mới xã VP”.

Trong Quyết định số 520/QĐ-UBND đã nhận định đây là khiếu nại sai, vì các lý do sau:

- Về căn cứ, thẩm quyền thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng: Dự án “Khu dân cư mới xã VP, thành phố TP” đã được Thủ tướng Chính phủ cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa sang loại đất khác để thực hiện dự án. Hội đồng nhân dân tỉnh đưa vào danh mục dự án cần thu hồi đất để phát triển kinh tế, xã hội vì L ích quốc gia, công cộng. Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500, chấp thuận chủ đầu tư theo quy định. Ủy ban nhân dân thành phố TP được Ủy ban nhân dân tỉnh ủy quyền thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Do đó, việc Ủy ban nhân dân thành phố TP thực hiện thu hồi đất, phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để thực hiện dự án “Khu dân cư mới xã VP, thành phố TP” là phù hợp với quy định tại Luật Đất đai năm 2013.

- Về trình tự, thủ tục thu hồi đất, phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để thực hiện dự án: UBND thành phố TP thực hiện thu hồi đất, lập, phê duyệt, công khai phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để thực hiện dự án “Khu dân cư mới xã VP, thành phố TP” đảm bảo quy định tại Điều 69 Luật Đất đai năm 2013.

- Về việc thực hiện chính sách hỗ trợ khác trong công tác giải phóng mặt bằng cho các hộ gia đình cá nhân có đất nông nghiệp tại xã có đất bị thu hồi từ 1.093 m2 trở lên: UBND thành phố TP đã lập, phê duyệt và thực hiện chi trả tiền hỗ trợ khác cho các hộ gia đình, cá nhân có đất nông nghiệp tại xã bị thu hồi từ 1.093 m2 trở lên theo đúng Văn bản số 3089/UBND-KTTNMT ngày 29/6/2020 của UBND tỉnh TP.

Như vậy, việc giải quyết khiếu nại của các công dân xã VP, thành phố TP, tỉnh TP của Chủ tịch UBND tỉnh TP bảo đảm đúng trình tự, thẩm quyền theo quy định của pháp luật hiện hành. Việc các công dân xã VP, thành phố TP khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 520/QĐ-UBND ngày 05/02/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh TP về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) của bà Hoàng Thị Tươi cùng 04 công dân đại diện cho một số hộ gia đình, cá nhân thôn PK, thôn Phúc Thượng, xã VP, thành phố TP đối với Quyết định số 3272/QĐ-UBND ngày 17/9/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố TP về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) là không có cơ sở. Vì vậy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Thế L.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 182/2022/HC-ST ngày 21/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh TP, quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 30, khoản 3, 4 Điều 32, điểm a khoản 2 Điều 116, khoản 1 Điều 158, điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 204, Điều 206 Luật Tố tụng hành chính; điểm d khoản 3 Điều 62 và các Điều 66, 69, 74, 75, 77, 83, 84, 88, 89, 90, 93, 204 Luâ ̣t Đất đai năm 2013; Điều 9 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ; Điều 18, 21, 27, 29, 30, 31, 36, 38, 39, 40 Luâ ̣t Khiếu na ̣i năm 2011; Điều 22, 29 Luâ ̣t Tổ chứ c chinh quyền đi ̣a phương năm

́ 2015.

Bác đơn khởi kiện của ông Hoàng Thế L yêu cầu hủy các quyết định sau:

- Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố TP về việc phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng dự án: Xây dựng khu dân cư mới xã VP, thành phố TP;

- Quyết định số 3272/QĐ-UBND ngày 17/9/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố TP giải quyết khiếu nại của bà Hoàng Thị Tươi, bà Đặng Thị Bê (Mai), ông Hoàng Hải Huân, bà Hoàng Thị Tròn đại diện cho một số hộ gia đình, cá nhân thôn PK, thôn Phúc Thượng, xã VP, thành phố TP (lần đầu);

- Quyết định số 520/QĐ-UBND ngày 05/02/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh TP về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) của bà Hoàng Thị Tươi cùng 04 công dân đại diện cho một số hộ gia đình, cá nhân thôn PK, thôn Phúc Thượng, xã VP, thành phố TP đối với Quyết định số 3272/QĐ-UBND ngày 17/9/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố TP về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu).

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/10/2022, người khởi kiện có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Ông Hoàng Thế L đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của ông Hoàng Thế L.

Người bảo vệ quyền và L ích hợp pháp của người bị kiện Chủ tịch UBND tỉnh TP đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính không chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng Thế L giữ nguyên quyết định của bản án hành chính sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội nêu quan điểm giải quyết vụ án: Sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời trình bày của các bên tại phiên tòa phúc thẩm đã khẳng định: Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện của ông Hoàng Thế L là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính không chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng Thế L giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh TP.

NHẬN ĐI ̣NH CỦ A TÒ A Á N:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về tố tụng: Ngày 10/5/2021, ông Hoàng Thế L khở i kiê ̣n yêu cầu hủy Quyết định số 520/QĐ-UBND ngày 05/02/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh TP; Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016 của UBND thành phố TP, Quyết định số 3272/QĐ-UBND ngày 17/9/2020 của Chủ tịch UBND thành phố TP. Khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; Tòa án nhân dân tỉnh TP thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo quy định tại Điều 30, Điều 32, Điều 116 Luâ ̣t Tố tu ̣ng hành chinh.́

[2] Về nội dung: Xét tính hợp pháp Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016 của UBND thành phố TP về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng.

[2.1] Về thẩm quyền: UBND thành phố TP ban hành Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016 về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng là đúng thẩm quyền quy định tại điểm a khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013.

[2.2] Về trình tự, thủ tục, nội dung thu hồi đất và bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất: Ngày 05/8/2016, UBND thành phố đã ban hành Kế hoạch số 105/KH-UBND về việc thu hồi đất. Sau đó, UBND thành phố TP, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố TP đã phối hợp với UBND xã VP ban hành thông báo về việc thu hồi đất, gửi đến người có đất bị thu hồi và niêm yết công khai dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tiếp nhận ý kiến và giải đáp thắc mắc của các hộ gia đình, cá nhân về dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng đồng thời tổng hợp, hoàn thiện phương án trình các phòng, ban đơn vị liên quan của UBND thành phố thẩm định.

Ngày 01/12/2016, UBND thành phố TP ban hành Quyết định số 13413/QĐ-UBND thu hồi 1.268,5m2 đất (loại đất: LUC) của hộ gia đình ông Hoàng Thế L, bà Hoàng Thị D thuộc thửa đất số 140, 333, 219, tờ bản đồ địa chính số 11, 12, thuộc địa giới hành chính xã VP, thành phố TP. Hộ ông L không khiếu nại gì đối với quyết định thu hồi đất. Cùng ngày 01/12/2016, UBND thành phố TP ban hành Quyết định số 13577/QĐ-UBND phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng để thực hiện Dự án; hộ ông L bị thu hồi tại thửa 140 là 112,5m2, thửa số 333 là 1.057,0m2, thửa 219 là 99,0m2, tổng là 1.268,5m2. Diện tích đất của hộ ông L được bồi thường tại thửa 140 là 112,5m2, thửa số 333 là 1.052,0m2, thửa 219 là 99,0m2, tổng là 1.263,5m2. Hộ ông L được bồi thường, hỗ trợ tổng số tiền là 258.365.500 đồng; gồm các khoản: Bồi thường về đất: 53.067.000 đồng; hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp và tìm kiếm việc làm: 79.600.500 đồng; hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất: 14.490.000 đồng; hỗ trợ khác theo Công văn số 1346/UBND-NNTNMT ngày 07/5/2015 của UBND tỉnh TP: 106.134.000 đồng; bồi thường hỗ trợ tài sản xây dựng, cây cối hoa màu: 5.074.000 đồng.

Sau khi phương án bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng được UBND thành phố TP phê duyệt, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố đã thực hiện việc niêm yết công khai quyết định phê duyệt phương án, công khai mức bồi thường, hỗ trợ đồng thời thông báo quyết định thu hồi đất, quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tới các hộ gia đình, cá nhân. Hộ ông L đã ký nhận đủ số tiền bồi thường 258.365.500 đồng.

Như vậy, UBND thành phố TP đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013 và đảm bảo chính sách bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất đối với hộ ông L theo đúng quy định tại các Điều 74, 75, 77, 83, 84, 90 Luật Đất đai năm 2013; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính Phủ về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và các Quyết định, Công văn của UBND tỉnh TP.

Ông L cho rằng trường hợp này được quyền thỏa thuận giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất với chủ đầu tư dự án là không có căn cứ; vì: Dự án khu dân cư mới xã VP là dự án đối ứng tạo nguồn thu từ giá trị quyền sử dụng đất để thanh toán cho công trình đường Kỳ Đồng kéo dài thành phố TP thực hiện theo hình thức hợp đồng Xây dựng, chuyển giao (BT), chủ đầu tư là Công ty cổ phần đầu tư xuất nhập khẩu Thăng L2 (Quyết định số 2124/UBND-MCLT ngày 30-6-2015 của UBND tỉnh TP chấp thuận đầu tư dự án Khu dân cư mới xã VP). Đây không thuộc trường hợp chủ đầu tư dự án nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và thỏa thuận về giá chuyển nhượng với người có đất thu hồi theo quy định tại Điều 73 Luật Đất đai năm 2013. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã bác yêu cầu khởi kiện của ông L đề nghị hủy Quyết định số 13577/QĐ-UBND là có căn cứ.

Ông L cho rằng việc bồi thường về đất cho các hộ dân mỗi người mức giá khác nhau và số tiền người nhận nhiều nhất là 175.000.000 đồng là không công bằng; tuy nhiên, ông L không cung cấp được chứng cứ chứng minh. Theo các tài liệu người bị kiện cung cấp thể hiện tất cả các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức Nhà nước có quyết định thu hồi đất để thực hiện dự án “Khu dân cư mới xã VP, thành phố TP” đều được áp dụng chung cơ chế, chính sách bồi thường, hỗ trợ, đảm bảo nguyên tắc công bằng theo quy định tại khoản 3 Điều 74 Luật Đất đai năm 2013. Không có tài liệu nào thể hiện việc UBND thành phố TP áp giá bồi thường cao hơn cho một số hộ gia đình khác như ý kiến của ông L. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông L đề nghị điều chỉnh giá bồi thường là có căn cứ.

[3] Xét tính hợp pháp của Quyết định số 3272/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của Chủ tịch UBND thành phố TP:

[3.1] Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành quyết định: Để giải quyết khiếu nại của bà Hoàng Thị Tươi và người đại diện cho một số công dân xã VP (trong đó có ông Hoàng Thế L). Chủ tịch UBND thành phố TP đã thụ lý khiếu nại, quyết định thành lập đoàn xác minh nội dung khiếu nại, thu thập các tài liệu liên quan, tiến hành đối thoại với người đại diện của ông L. Ngày 17/9/2020, Chủ tịch UBND thành phố TP ban hành Quyết định số 3272/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại (lần đầu) là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 204 Luật Đất Đai năm 2013; Điều 29 Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các Điều 18, 27, 29, 30, 31 Luật Khiếu nại năm 2011.

[3.2] Về nội dung: Theo như phân tích tại mục [2] thì UBND thành phố TP ban hành Quyết định số 13577/QĐ-UBND ngày 01/12/2016 phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng Dự án xây dựng khu dân cư mới xã VP là đúng quy định của pháp luật. Tại Quyết định giải quyết khiếu nại số 3272/QĐ-UBND ngày 17/9/2020 của Chủ tịch UBND thành phố TP đã giữ nguyên nội dung Quyết định số 13577/QĐ-UBND. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã bác yêu cầu khởi kiện của ông L đề nghị hủy Quyết định số 3272/QĐ-UBND là có căn cứ.

[4] Xét tính hợp pháp của Quyết định số 520/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại (lần hai) của Chủ tịch UBND tỉnh TP:

[4.1] Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành quyết định: Chủ tịch UBND tỉnh TP đã thụ lý khiếu nại (lần hai) của bà Hoàng Thị Tươi và người đại diện cho một số công dân xã VP (trong đó có ông L) và giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh TP tiến hành xác minh khiếu nại, tiến hành đối thoại với người khiếu nại. Ngày 05/02/2021, Chủ tịch UBND tỉnh TP đã ban hành Quyết định số 520/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại là đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Điều 22 Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các Điều 21, 36, 38, 39, 40 Luật Khiếu nại năm 2011.

[4.2] Về nội dung: Quyết định giải quyết khiếu nại số 520/QĐ-UBND ngày 05/02/2021 của Chủ tịch UBND tỉnh TP đã công nhận và giữ nguyên Quyết định số 3272/QĐ-UBND của Chủ tịch UBND thành phố TP. Theo như phân tích tại mục [3] thì Quyết định số 3272/QĐ-UBND là đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận yêu cầu hủy Quyết định số 520/QĐ-UBND là có cơ sở.

[5] Tòa án cấp sơ thẩm đã không chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của ông L là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, ông L không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì mới. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông L; chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tại phiên toà.

[6] Về án phí: Ông Hoàng Thế L là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí, vì vậy miễn án phí hành chính phúc thẩm cho ông Hoàng Thế L.

[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật tố tụng hành chính năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Hoàng Thế L; giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 182/2022/HC-ST ngày 21/9/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh TP.

Về án phí: Ông Hoàng Thế L không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Hồng Sơn

Trần Quang Minh

Lê Thị Thúy Bình

Cỡ chữ