vanban.org

Bản án 499/2022/HS-ST — Hình sự

Thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 28/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1- Căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 171; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điểm g, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố các bị cáo Quách Vĩnh T và bị cáo Bùi Đại P phạm tội “Cướp giật tài sản”. Xử phạt bị cáo Quách Vĩnh T: 06 (sáu) năm tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp giật tài sản - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1- Căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 171; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điểm g, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
  • Căn cứ chính? Điều 171 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 499/2022/HS-ST
Ngày: 28/12/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Khắc Hưng

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Hương;

2/ Ông Huỳnh Tiến Dũng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vi Thị Lan – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án Nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 452/2022/TLST-HS ngày 23/11/2022; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 533/QĐXXST-HS ngày 08/12/2022 đối với các bị cáo:

1. Quách Vĩnh T, sinh năm 2001; Nơi sinh: tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: A đường số B, khu phố C, phường D, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Quách Hồng Đ và bà Võ Phi Y; Tiền án, tiền sự: không; Tạm giam, tạm giữ từ ngày 02/8/2022. (có mặt).

2. Bùi Đại P, sinh năm 2003; Nơi sinh: tại Thành phố Hồ Chí Minh; Thường trú: A đường số B, khu phố C, phường D, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Văn P và bà Khổng Thị Mỹ T; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giam, tạm giữ từ ngày 02/8/2022. (có mặt).

3. Đoàn Văn D, sinh năm 1996; Nơi sinh: tại Hồ Chí Minh; Thường trú: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Không rõ và bà Đoàn Thị Ú; Tiền án: 01 theo Bản án số 200/2019/HSST ngày 08/5/2019, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội: “Cướp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 30/01/2021; Tiền sự: Không; Tạm giam, tạm giữ từ ngày 02/8/2022. (có mặt).

Người bị hại:

- Chị Nguyễn Ngọc Minh C, sinh năm 2004

Thường trú: Tổ A, khu phố B, phường C, thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước.

Chỗ ở: A Lê Đình Quảng, phường B, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Chị Phạm Vân A, sinh năm 2005

Thường trú: số nhà A, đường B, khu phố C, phường Phúc Thành, Tp. Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình.

Chỗ ở: Mỹ Phước 3, Thới Hòa, Bến Cát, Bình Dương. (vắng mặt)

- Chị Huỳnh Cẩm N, sinh năm 1989

Địa chỉ: A đường 5, phường C, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Chị Phạm Thu T, sinh năm 1997

Địa chỉ: A đường B, phường C, , thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Anh Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1995

Địa chỉ: A Nguyễn Văn Lượng, Phường B, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Chị Đỗ Huỳnh Hiếu T, sinh năm 1999

Địa chỉ: A chung cư B, Đường C, phường Cát Lái, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Bà Lương Thị B, sinh năm 1967

Thường trú: Ấp A, phường B, thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Chỗ ở: A đường số B, khu phố C, phường Thạnh Mỹ Lợi, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

- Ông Dương Quang H, sinh năm 1990

Thường trú: Ấp A, xã B, huyện Mỹ Tú, tỉnh Sóc Trăng.

Chỗ ở: A, khu phố B, phường C, thị xã T An, tỉnh Bình Dương. (vắng mặt)

Người làm chứng: Anh Lê Hoàng A.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 15 phút ngày 29/7/2022, Quách Vĩnh T và Bùi Đại P gặp nhau tại bãi đất trống đường Lê Hiến Mai, phường Thạnh Mỹ Lợi, thành phố Thủ Đức để uống nước. Tại đây, cả hai rủ nhau đi giật tài sản người đi đường để bán lấy tiền tiêu xài, T là người cầm lái, còn P ngồi sau có nhiệm vụ giật tài sản. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Quách Vĩnh T điều khiển xe máy hiệu Honda Wave gắn biển số: 51H2 - 6125 chở Bùi Đại P ngồi sau, lưu thông trên đường Đồng Văn Cống thì T P hiện chị Nguyễn Ngọc Minh Châu điều khiển xe mô tô hiệu Honda Vision biển số: 59K2-233.46 chở chị Phạm Vân Anh ngồi phía sau, trên tay trái chị Vân Anh có cầm hai điện thoại di động xem Google Map nên T nói cho P biết, P đồng ý giật. Khi đến trước nhà số 186 Đồng Văn Cống, phu phố 1, phường Thạnh Mỹ Lợi, thành phố Thủ Đức, T điều khiển xe áp sát bên tay trái của chị Châu và chị Vân Anh, lúc này P dùng tay phải giật hai chiếc điện thoại di động hiệu IPhone 12S, màu đồng và điện thoại di động hiệu Iphone 6S màu xám của chị Vân Anh rồi cả hai tẩu thoát. Sau đó, P đưa hai điện thoại di động nêu trên cho T mang đi bán.

Đến 10 giờ 30 phút ngày 30/7/2022, T liên lạc cho Đoàn Văn D rồi đến nhà D tại số 9 đường 8, phường Bình Trưng Đông, thành phố Thủ Đức bán hai điện thoại di động trên, T nói cho D biết điện thoại vừa cướp giật được, và qua kiểm tra D thấy hai điện thoại nêu trên bị khóa màn hình và cài mật khẩu không mở được nên biết được tài sản do T phạm tội mà có nên báo giá mua Iphone 12 là 4.500.000 đồng, còn Iphone 6S là 1.300.000 đồng nhưng chưa đưa tiền, hẹn khi nào bán được sẽ trả tiền. Đến khoảng 20 giờ 00 phút ngày 30/7/2022, khi T và P điều khiển xe máy lưu thông trên đường Nguyễn Duy Trinh thì bị tổ tuần tra thuộc Đội cảnh sát hình sự Công an thành phố Thủ Đức kiểm tra giấy tờ tùy thân và giấy tờ xe nhưng cả hai không xuất trình được nên mời về Công an phường Thạnh Mỹ Lợi làm việc.

Tại Công an phường, Quách Vĩnh T và Bùi Đại P đã khai nhận về hành vi cướp giật tài sản nêu trên. Sau đó, Cơ quan điều tra tiến hành đưa Đoàn Văn D về làm việc và D đã tự nguyện giao nộp 02 chiếc điện thoại di động đã mua của T cho Cơ quan điều tra để làm rõ. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, T và P đã thừa nhận hành vi cướp giật tài sản của chị Châu và chị Vân Anh như nội dung đã nêu. Ngoài ra, T và P còn khai nhận đã thực hiện 05 vụ cướp giật tài sản khác, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: khoảng 16 giờ 00 ngày 01/5/2022, T và P điều khiển xe máy hiệu Honda Wave biển số 52S2 - 4782 đi trên đường Nguyễn Duy Trinh, thì P hiện chị Huỳnh Cẩm Nhung điều khiển xe mô tô chở theo con trai nhỏ ngồi sau đang dừng trước hiệu thuốc tây, phía trước xe mô tô có treo 01 giỏ xách màu đen nên cả hai nảy sinh ý định bám theo để giật tài sản. Khi chị Nhung chở con trai đi về đến nhà tại số 5, đường 5, phường Bình Trưng Tây, thành phố Thủ Đức thì chị Nhung đi vào nhà cất đồ, còn con trai nhỏ vẫn ngồi trên xe mô tô. Thấy vậy, T điều khiển xe chạy tới, P ngồi sau dùng tay phải giật giỏ xách (bên trong có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro 256Gb màu vàng, 01 cái bóp bên trong có 6.000.000 đồng và một số vật dụng cá nhân khác) rồi tẩu thoát. Khi về nhà, một người quen trên mạng xã hội (không rõ lai lịch) của P thấy chị Nhung đăng lên mạng xã hội hình ảnh camera mà P và T giật giỏ xách nên nhận ra P, người này nói là người quen nên yêu cầu P đem trả lại tài sản cho chị Nhung. Sau khi biết là người quen, P đã đưa tất cả tài sản trên cho người quen của mình để trả lại cho chị Nhung, khi trả lại tài sản thì chị Nhung cho P và T 1.500.000 đồng, cả hai chia nhau mỗi người 750.000 đồng để tiêu xài.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 20/7/2022, T và P điều khiển xe Honda Wave biển số 52S2-4782 đi trên đường Đỗ Xuân Hợp, phường An Phú, thành phố Thủ Đức thì P hiện anh Lê Hoàng Anh điều khiển xe mô tô hiệu Vision màu trắng biển số 59X4 – 535.39 chở chị Phạm Thu Thủy ngồi phía sau đeo một túi xách màu đen ở chính giữa hai người. Thấy vậy, T điều khiển xe chở P đi theo đến trước nhà số 147/2 Đỗ Xuân Hợp, phường An Phú thì T điều khiển xe áp sát bên tay phải anh Hoàng Anh, P ngồi sau dùng tay trái giật chiếc túi xách rồi cả hai tẩu thoát. Trong túi xách có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax màu trắng, một tai nghe hiệu Airpod màu trắng và một số đồ cá nhân khác như chỉ nha khoa, kem chống nắng, chai xịt thơm miệng. Sau khi giật được túi xách, T xem trong túi xách có giấy tờ ngày tháng năm sinh của chị Thủy nên bấm mở màn hình điện thoại thì mở được khóa màn hình, P lấy điện thoại trên sử dụng và đưa trả cho T 4.000.000 đồng, số vật dụng cá nhân P giữ lại, còn tai nghe Airpod bị rơi mất.

Vụ thứ ba: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 20/7/2022, T và P điều khiển xe máy hiệu Honda Wave biển số 52S2 - 4782 đi lòng vòng trên đường Nguyễn Thị Định tìm người đi đường có tài sản sơ hở thì giật để bán lấy tiền tiêu xài. Khi cả hai điều khiển xe máy đến trước nhà số 193A Nguyễn Thị Định, phường Bình Trưng Tây thì P hiện anh Nguyễn Tuấn Anh đang đứng cầm điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax 128GB, màu xanh trên tay phải nghe điện thoại, thấy vậy T chạy xe tới áp sát vào người anh Tuấn Anh, lúc này P ngồi sau dùng tay phải giật chiếc điện thoại trên tay anh Tuấn Anh rồi T tăng ga bỏ chạy. Sau khi lấy được điện thoại, T nói với P sẽ giữ lại để sử dụng do điện thoại không có khóa màn hình nên T mở được mật khẩu và hứa sẽ đưa cho P 10.000.000 đồng, nhưng đến nay vẫn chưa đưa tiền.

Vụ thứ tư: Vào khoảng 20 giờ 40 ngày 25/7/2022, T và P điều khiển xe Honda Wave biển số 52S2-4782 đi trên đường Đồng Văn Cống, phường Thạnh Mỹ Lợi, thành phố Thủ Đức thì T thấy anh Trần Quốc Huy điều khiển xe mô tô hiệu Ariblade màu trắng chở theo chị Đỗ Huỳnh Hiếu Thảo ngồi phía sau có để một túi xách hiệu Charles & Keith màu đen ở chính giữa hai người nên T và P đi theo. Khi đến đoạn đường vắng trước nhà số 332 Đồng Văn Cống, phường Thạnh Mỹ Lợi thì T áp sát bên tay trái hướng đi của anh Huy, P ngồi sau dùng tay phải giật một giỏ xách màu đen rồi bỏ chạy, anh Huy có đuổi theo nhưng không kịp. Trong túi xách có 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng; 01 Aripod màu trắng; 02 hộ chiếu mang tên Đỗ Huỳnh Hiếu Thảo và một số vật dụng cá nhân. Sau khi giật được tài sản, T mang điện thoại Iphone 7 Plus bán cho người đi đường (khách vãng lai) được 2.000.000 đồng và chia cho P mỗi người được 1.000.000 đồng, túi xách và Airpod thì T cất giữ, còn 02 hộ chiếu và một số vật dụng cá nhân đã bị đánh rơi trên đường đi.

Ngoài ra, T và P còn khai nhận: Khoảng 21 giờ vào tháng 6/2022 (không nhớ rõ ngày), T và P điều khiển xe máy hiệu Honda Wave biển số 52S2 - 4782 đi trên đường Lê Văn Việt tìm người nào sơ hở thì giật tài sản. Khi đến trước nhà số 685A Lê Văn Việt, phường Tân Phú, thành phố Thủ Đức thì P hiện một đôi nam nữ (không rõ lai lịch) điều khiển xe gắn máy hiệu Vario (không rõ biển số) đi trên đường, người phụ nữ ngồi phía sau có đeo túi xách cột một túi đựng con heo đất bên tay phải nên T áp sát xe để cho P ngồi sau giật lấy túi xách của người phụ nữ này rồi tăng ga bỏ chạy. Khi giật túi xách thì rớt con heo đất xuống đường bị vỡ ra, trong túi xách có 01 điện thoại di động hiệu Vivo, màu hồng bị vỡ màn hình và bóp cầm tay có số tiền 3.600.000 đồng. Do điện thoại Vivo bị vỡ màn hình nên T lấy cho bà Lương Thị Bẩy (mẹ vợ của T) sửa lại màn hình rồi để sử dụng, khi đưa thì T nói cho bà Bẩy biết điện thoại do mình cướp giật mà có được, còn số tiền 3.600.000 đồng thì cả hai chia nhau mỗi người 1.800.000 đồng tiêu xài hết.

Kết luận định giá tài sản số 192-KV1/KLĐG-HĐĐGTS ngày 15/9/2022, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự thành phố Thủ Đức thì giá trị các tài sản bị chiếm đoạt như sau:

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 12, 64Gb, màu đồng, Emei: 355984576362392 của chị Nguyễn Ngọc Minh Châu (đã qua sử dụng) là 10.067.000 đồng.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S, 32Gb, màu xám, Emei: 359485089745418 của chị Phạm Vân Anh (đã qua sử dụng) là 1.583.000 đồng.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro Max, 256Gb, màu vàng, sản xuất năm 2021 của chị Huỳnh Cẩm Nhung (đã qua sử dụng) là 30.667.000 đồng.

- 01 điện thoại di động hiệu Vivo 1920, 128Gb, màu hồng, Emei 1: 863294049201333, Emei 2: 63294049201325, sản xuất năm 2019 (đã qua sử dụng) (không xác định được chủ sở hữu) là 1.683.000 đồng.

- 01 điện thoại Iphone 11 Promax, 64Gb, màu trắng, Emei 353917104954233 của chị Phạm Thu Thủy (đã qua sử dụng) là 10.500.000 đồng.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, 128GB, màu xanh, Emei: 3523628822829862 của anh Nguyễn Tuấn Anh (đã qua sử dụng) là 27.000.000 đồng.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus 128Gb, màu vàng của chị Đỗ Huỳnh Hiếu Thảo (đã qua sử dụng) là 2.000.000 đồng.

- 01 ví nữ cầm tay hiệu LV, màu nâu (không rõ mã sản phẩm, đã qua sử dụng); 01 giỏ xách da nữ hiệu Coach, màu đen (không rõ mã sản phẩm, đã qua sử dụng); 01 giỏ xách nữ hiệu Charles & Keith, màu đen (không rõ mã sản phẩm, đã qua sử dụng; 01 tai nghe hiệu Airpod màu trắng (không rõ đời sản xuất) và 01 tai nghe hiệu Airpod màu trắng, seri: H78GMGP51059 (không rõ đời sản xuất). Hội đồng định giá từ chối định giá tài sản do chưa đủ cơ sở tiến hành định giá.

Vật chứng thu giữ:

- 01 điện thoại di động hiệu IPhone 12, 64Gb, màu đồng, Emei: 355984576362392 (đã qua sử dụng), đây là điện thoại của chị Nguyễn Ngọc Minh Châu bị cướp giật ngày 29/7/2022 do Đoàn Văn D giao nộp. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Châu.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S, 32Gb, màu xám, Emei: 359485089745418 (đã qua sử dụng), đây là điện thoại của chị Phạm Vân Anh bị cướp giật ngày 29/7/2022 do Đoàn Văn D giao nộp. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Vân Anh

- 01 điện thoại Iphone 11 Promax, màu trắng, Emei: 353917104954233 (đã qua sử dụng); 01 thẻ card Visit ngân hàng MB của Vũ Tiến Đạt- Giám đốc chi nhánh; 01 thẻ Card Visit A25 Hotel tại 180-184 Nguyễn Trãi, Quận 1, Tp Hồ Chí Minh (đã qua sử dụng); 01 thẻ Card Visit Phaya thai Spa (đã qua sử dụng); 01 tuýp kem chống nắng hiệu Doctor Magic (đã qua sử dụng); 01 hộp chỉ nha khoa (đã qua sử dụng); 01 chai xịt thơm miệng hiệu Glister (đã qua sử dụng), đây là các tài sản của chị Phạm Thu Thủy bị cướp giật ngày 20/7/2022 do Bùi Đại P giao nộp. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Thủy.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax (128GB, màu xanh), Emei 3523628822829862, đây là điện thoại của anh Nguyễn Tuấn Anh bị cướp giật ngày 20/7/2022 do Quách Vĩnh T giao nộp. Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Tuấn Anh.

- 01 giỏ xách đeo màu đen hiệu Charles & Keith; 01 Airpod màu trắng, seri: H78GMGP51059 (đã qua sử dụng). Đây là tài sản của chị Đỗ Huỳnh Hiếu Thảo bị cướp giật ngày 25/7/2022, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Thảo.

- 01 điện thoại di động hiệu Vivo, màu hồng, Emei: 863294049201333 (đã qua sử dụng), đây là điện thoại do bà Lương Thị Bẩy giao nộp và 01 bóp cầm tay nữ hiệu LV màu nâu (đã qua sử dụng), hiện chưa tìm được bị hại. Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh làm rõ.

- 01 điện thoại di động hiệu Masstel, model: izi 105; Iemei: 358246090724367 (đã qua sử dụng) là điện thoại T dùng liên lạc rủ P đi cướp giật tài sản; 01 áo khoác thun màu đen có sọc màu trắng (đã qua sử dụng) mà T mặc khi đi giật tài sản vào ngày 29/7/2022; 01 xe máy hiệu Honda Wave biển số 52S2 - 4782, màu xanh xám T dùng làm phương tiện đi cướp giật tài sản. Kết quả xác minh, xe do anh Dương Quang Hòa đứng tên chủ sở hữu, anh Hòa đã bán lại xe trên cho một người (không rõ lai lịch) vào năm 2017 nhưng chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu. T khai nhận mua lại xe trên của một người (không rõ lai lịch) dùng làm phương tiện đi lại; 01 biển số xe 51H2 – 6125 T dùng để gắn vào xe máy hiệu Honda Wave, màu xanh xám của T, qua xác minh biển số xe trên không có trong cơ sở dữ liệu và 01 nón bảo hiểm hiệu nón sơn, màu xanh. Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng số tài sản trên.

- 01 áo khoác màu đen, hai bên vai có 03 sọc màu trắng (đã qua sử dụng) mà P mặc khi đi cướp giật tài sản vào ngày 29/7/2022. Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng.

- 01 điện thoại di động hiệu Oppo A95, kiểu máy CPH 2365 của Đoàn Văn D, dùng để liên lạc mua tài sản do T phạm tội mà có. Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Quách Vĩnh T, Bùi Đại P và Đoàn Văn D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Về trách nhiệm phần dân sự:

Các bị hại gồm chị Nguyễn Ngọc Minh Châu, chị Phạm Vân Anh, anh Nguyễn Tuấn Anh, chị Phạm Thu Thủy, chị Huỳnh Cẩm Nhung đã nhận lại tài sản bị cướp giật nên không có yêu cầu nào khác

Chị Đỗ Huỳnh Hiếu Thảo bị mất điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus 128Gb màu vàng (không thu hồi được) nên yêu cầu P và T bồi thường số tiền 2.000.000 đồng theo giá trị mà Cơ quan điều tra đã định giá.

Tại bản Cáo trạng số 420/CTr – VKSTPTĐ ngày 18/11/2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Quách Vĩnh T và Bùi Đại P phạm vào tội: “Cướp giật tài sản”, tại điểm c, d khoản 2 Điều 171Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Bị cáo Đoàn Văn D đã phạm vào tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát Nhân dân thành phố Thủ Đức P biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Quách Vĩnh T, Bùi Đại P về tội “Cướp giật tài sản” đồng thời đề nghị áp dụng điểm c, d khoản 2 Điều 171; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Quách Vĩnh T từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù. Bị cáo Bùi Đại P từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù.

Truy tố bị cáo Đoàn Văn D về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 323; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt bị cáo Đoàn Văn D từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.

- Bị cáo Quách Vĩnh T không tranh luận về hành vi phạm tội, bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại và xin được giảm nhẹ hình phạt.

- Bị cáo Bùi Đại P không tranh luận về hành vi phạm tội, bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại và xin được giảm nhẹ hình phạt.

- Bị cáo Đoàn Văn D không tranh luận về hành vi phạm tội, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình tố tụng và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:

Vào các ngày 01/5/2022; 20/7/2022; 25/7/2022 và ngày 29/7/2022, Quách Vĩnh T đã 05 lần điều khiển xe máy hiệu Honda Wave biển số 52S2 – 4782 màu xanh xám chở Bùi Đại P có hành vi cướp giật tài sản của chị Nguyễn Ngọc Minh Châu, chị Phạm Vân Anh, anh Nguyễn Tuấn Anh, chị Phạm Thu Thủy, chị Huỳnh Cẩm Nhung và chị Đỗ Huỳnh Hiếu Thảo gồm các tài sản 01 điện thoại di động hiệu IPhone 12, 64Gb, màu đồng trị giá 10.067.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S, 32Gb, màu xám trị giá 1.583.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro Max, 256Gb, màu vàng trị giá 30.667.000 đồng; 01 điện thoại Iphone 11 Promax, 64Gb, màu trắng, trị giá 10.500.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax, 128GB, màu xanh trị giá 27.000.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus 128Gb, màu vàng trị giá 2.000.000 đồng và 6.000.000 đồng tiền mặt tại các phường Thạnh Mỹ Lợi, Bình Trưng Tây và phường An Phú, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tổng giá trị tài sản mà Quách Vĩnh T và Bùi Đại P đã chiếm đoạt trị giá 87.817.000 đồng.

Hành vi điều khiển xe mô ô ép sát và nhanh chóng giật tài sản của bị hại mà các bị cáo thực hiện có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người bị giật tài sản cũng như của những người tham gia giao thông đã thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội: “Cướp giật tài sản” thuộc trường hợp: “Dùng thủ đoạn nguy hiểm” và “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bị cáo Đoàn Văn D biết rõ điện thoại di động hiệu Iphone 12, 64Gb, màu đồng và 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S, 32Gb, màu xám là do Quách Vĩnh T cướp giật mà có nhưng vẫn đồng ý mua, thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu hợp pháp đối với tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Vụ án có tính chất đồng phạm nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, bị cáo T tham gia với vai trò chủ mưu và cùng bị cáo P trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo D tham gia thực hiện hành vi tiêu thụ tài sản. Vì vậy cần phải xử lý các bị cáo tương xứng với tính chất, hành vi và vai trò phạm tội của các bị cáo, nhằm đảm bảo tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Đối với vụ cướp giật tài sản do T và P khai đã thực hiện nhưng hiện nay chưa xác định được bị hại, Cơ quan Điều tra sẽ làm rõ xử lý sau.

Đối với bà Lương Thị Bẩy khi được Quách Vĩnh T đưa cho điện thoại di động hiệu Vivo màu hồng để sử dụng, bà Bẩy biết đây là tài sản do T phạm tội mà có nhưng vẫn đem sửa để sử dụng, hành vi của bà Bẩy có dấu hiệu của tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Tuy nhiên, do vụ án này chưa tìm được bị hại, Cơ quan Điều tra sẽ làm rõ xử lý sau.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:

- Về tình tiết tăng nặng:

Bị Cáo T và P phạm tội 02 lần trở lên, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Bị cáo D có 01 tiền án chưa được xóa án tích lại tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Ngoài ra, bản thân bị cáo trước đó cũng từng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không thay đổi bản thân, tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện thái độ coi thường pháp luật.

- Về tình tiết giảm nhẹ: tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Tài sản đã thu hồi một phần và trả lại bị hại là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do vậy, nên cần giảm một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.

Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự:

- Các bị hại gồm chị Nguyễn Ngọc Minh Châu, chị Phạm Vân Anh, anh Nguyễn Tuấn Anh, chị Phạm Thu Thủy, chị Huỳnh Cẩm Nhung đã nhận lại tài sản bị cướp giật nên không có yêu cầu nào khác nên không xem xét.

- Chấp nhận yêu cầu của người bị hại chị Đỗ Huỳnh Hiếu Thảo yêu cầu các bị cáo Quách Vĩnh T và Bùi Đại P liên đới bồi thường số tiền là 2.000.000 đồng.

- Giao cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cho đăng tải thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp của 01 xe máy hiệu Honda Wave biển số 52S2 - 4782, số máy: P52FMHZ006880 số khung: UM5X006880. Hết thời hạn nêu trên, nếu không tìm được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Tịch thu tiêu hủy đối với 01 biển số xe 51H2 – 6125; 01 áo khoác thun màu đen có sọc màu trắng; 01 (một) nón bảo hiểm hiệu nón sơn, màu xanh; 01 (một) áo khoác màu đen, hai bên vai có 03 sọc màu trắng không còn giá trị sử dụng.

- Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo A95, kiểu máy CPH 2365 của Đoàn Văn D liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội.

- Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động hiệu Masstel, model: izi 105; Iemei: 358246090724367 (đã qua sử dụng) là điện thoại của T liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội;

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo, màu hồng, Emei: 863294049201333 (đã qua sử dụng) và 01 bóp cầm tay nữ hiệu LV màu nâu (đã qua sử dụng), hiện chưa tìm được bị hại. Giao cho Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh làm rõ.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1- Căn cứ điểm c, d khoản 2 Điều 171; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điểm g, khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố các bị cáo Quách Vĩnh T và bị cáo Bùi Đại P phạm tội “Cướp giật tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Quách Vĩnh T: 06 (sáu) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2022.

- Xử phạt bị cáo Bùi Đại P: 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2022.

2- Căn cứ khoản 1 Điều 323; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Đoàn Văn D phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

- Xử phạt bị cáo Đoàn Văn D: 02 năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 02/8/2022.

4- Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 584; Điều 585 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Buộc các bị cáo Quách Vĩnh T và Bùi Đại P có trách nhiệm bồi thường cho chị Đỗ Huỳnh Hiếu Thảo số tiền 2.000.000 (Hai triệu) đồng. Trong đó phần trách nhiệm bồi thường của mỗi bị cáo là 1.000.000 (Một triệu) đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án nếu bên bị thi hành án chưa thi hành, thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án;

- Giao cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cho đăng tải thông tin trên phương tiện thông tin đại chúng trong thời hạn 06 tháng để tìm chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp của 01 xe máy hiệu Honda Wave biển số 52S2 - 4782, số máy: P52FMHZ006880 số khung: UM5X006880. Hết thời hạn nêu trên, nếu không tìm được chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp thì tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Tịch thu tiêu hủy đối với 01 biển số xe 51H2 – 612; 01 áo khoác thun màu đen có sọc màu trắng; 01 (một) nón bảo hiểm hiệu nón sơn, màu xanh; 01 (một) áo khoác màu đen, hai bên vai có 03 sọc màu trắng không còn giá trị sử dụng.

- Tịch thu sung vào Ngân sách nhà nước đối với 01 điện thoại di động hiệu Oppo A95, kiểu máy CPH 2365 của Đoàn Văn D và 01 điện thoại di động hiệu Masstel, model: izi 105; Iemei: 358246090724367 (đã qua sử dụng) là điện thoại của T liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội;

(Theo phiếu nhập kho số NK 23/051C ngày 24/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Vivo, màu hồng, Emei: 863294049201333 (đã qua sử dụng) và 01 bóp cầm tay nữ hiệu LV màu nâu (đã qua sử dụng), hiện chưa tìm được bị hại. Giao cho Cơ quan điều tra đang tiếp tục xác minh làm rõ.

5- Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án để tính án phí Tòa án:

Bị cáo Quách Vĩnh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo Bùi Đại P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo Đoàn Văn D phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

6- Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo bản án. Người bị hại và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa T thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, điều 7, Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ