- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Phương Lan - Nguyễn Hoàng Bảo Chiêu"
- Tòa quyết gì? Xử: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Phương L. Chị Nguyễn Thị Phương L được quyền ly hôn anh Nguyễn Hoàng Bảo C.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 499/2019/HNGĐ-ST Ngày: 13/9/2019. V/v tranh chấp: “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO - TỈNH TIỀN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trương Vĩnh Hữu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Phúc Viễn.
Ông Lê Văn Rỡ.
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Phan Thủy Uyên, Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Tuyết Hằng, Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình đã thụ lý số: 447/2019/TLST-HNGĐ ngày 02/8/2019 về việc tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/8/2019 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Nguyễn Thị Phương L, sinh năm 1990; (có mặt)
Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nguyên đơn: Luật sư Hồ Thị N - thuộc đoàn luật sư tỉnh Tiền Giang. (vắng mặt)
2. Bị đơn: Nguyễn Hoàng Bảo C, sinh năm 1984; (có mặt)
Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn Nguyễn Thị Phương L có văn bản xin vắng mặt và tại bản tự khai cũng như đơn khởi kiện chị L trình bày: Giữa chị Nguyễn Thị Phương L và anh Nguyễn Hoàng Bảo C kết hôn năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Tiền Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, trong quá trình chung sống thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm. Gia đình có hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không đạt được kết quả. Chị L và anh C đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến thời điểm hiện tại, cuộc sống vợ chồng tự ai nấy lo, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Vì thế về tình cảm vợ chồng không còn nên chị L yêu cầu được ly hôn anh C;
Về con chung: Có một con chung Nguyễn Hoàng Bảo U sinh ngày 09/8/2015, hiện tại đang sống cùng chị L, khi ly hôn chị L yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con;
Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn Nguyễn Hoàng Bảo C trình bày: Thống nhất cùng lời trình bày của chị Nguyễn Thị Phương L về thời gian kết hôn, không có mâu thuẫn như lời trình bày của chị L. Anh C không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Thống nhất cùng lời trình bày của chị L về con chung. Anh C yêu cầu được quyền nuôi con chung, chị L không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Chị Nguyễn Thị Phương L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;
Anh Nguyễn Hoàng Bảo C không đồng ý ly hôn, yêu cầu được nuôi con chung, không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang phát biểu ý kiến trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng Dân Sự. Về nội dung vụ án đại diện Viện kiểm sát đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Phương L và con chung. Chị L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp; Sự có mặt, vắng mặt đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Phương L thì vụ án thuộc quan hệ pháp luật tranh chấp “Ly hôn” được quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình;
Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nguyên đơn theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân Sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nguyên đơn có văn bản xin vắng mặt cho nên Hội đồng xét xử căn cứ các điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân Sự xét xử vắng mặt người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp nguyên đơn.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Phương L về việc được ly hôn anh Nguyễn Hoàng Bảo C, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ vào lời trình bày, các chứng cứ do đương sự cung cấp thì giữa chị Nguyễn Thị Phương L và anh Nguyễn Hoàng Bảo C kết hôn năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện P, tỉnh Tiền Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, trong quá trình chung sống thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm. Gia đình có hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không đạt được kết quả. Chị L và anh C đã sống ly thân từ năm 2016 cho đến thời điểm hiện tại, cuộc sống vợ chồng tự ai nấy lo, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau;
Căn cứ vào biên bản xác minh ngày 20/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang về tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Phương L và anh Nguyễn Hoàng Bảo C nhưng không xác định được tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh C vì không có yêu cầu hòa giải tại cơ sở;
Tại phiên tòa, anh C thừa nhận anh C đang sống tại ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang còn chị Nguyễn Thị Phương L đã về nhà cha mẹ ruột sinh sống. Anh C đã nhiều lần yêu cầu chị L về sống chung nhưng chị L không đồng ý. Anh C cũng không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng;
Vì thế Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống vợ chồng giữa chị L và anh C không còn hạnh phúc, cuộc sống chung không thể kéo dài và mục đích hôn nhân không đạt được cho nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Nguyễn Thị Phương L.
Xét yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Phương L về việc được quyền nuôi con chung, anh C không phải cấp dưỡng nuôi con, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Căn cứ lời trình bày của đương sự thì giữa chị L và anh C có một con chung Nguyễn Hoàng Bảo U sinh ngày 09/8/2015, chị L đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng;
Tại phiên tòa, các đương sự đều thừa nhận là lao động phổ thông, thu nhập ở mức trung bình, có nơi cư trú ổn định, do đó về điều kiện nuôi con chung thì chị L và anh C đều có quyền ngang nhau;
Tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo cuộc sống ổn định của con chung không bị thay đổi liên tục môi trường nuôi dưỡng sẽ làm ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ em, hiện tại con chung do chị L là người đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho nên cần tiếp tục giao con chung Nguyễn Hoàng Bảo U sinh ngày 09/8/2015 cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh C không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về án phí: Chị Nguyễn Thị Phương L phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.
Đối với đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng các điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và Gia đình.
Căn cứ các điều 92, 147, 220, 227, 228 Bộ luật Tố tụng Dân Sự;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ Luật Thi hành án Dân sự.
Xử: 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Phương L. Chị Nguyễn Thị Phương L được quyền ly hôn anh Nguyễn Hoàng Bảo C.
2. Về con chung: Tiếp tục giao con chung Nguyễn Hoàng Bảo U sinh ngày 09/8/2015 cho chị Nguyễn Thị Phương L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Nguyễn Hoàng Bảo C không phải cấp dưỡng nuôi con;
Anh Nguyễn Hoàng Bảo C được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
3. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Phương L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị L đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0002855 ngày 02/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Chợ Gạo; - Chi cục THADS huyện Chợ Gạo; - Các đương sự; - UBND xã (phường); Lưu: HS, AV. | Trương Vĩnh Hữu |