- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Huỳnh Công H - Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục người dưới 16 tuổi - giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Áp dụng Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ
- Căn cứ chính? Điều 145 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 498/2026/HS-ST Ngày: 14/4/2026. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thu Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Võ Thị Gái;
2. Ông Nguyễn Hồng Phúc – Nguyên giáo viên;
- Thư ký phiên tòa: Ông Lại Văn Khoa - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực
2 - Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh
tham gia phiên toà: Ông Ngụy Khắc Vĩnh - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 – Thành
phố Hồ Chí Minh xét xử kín sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 326/2026/TLST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 457/2026/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 3 năm 2026, đối với bị cáo:
Nguyễn Huỳnh Công H, sinh năm 2005; tại Đắk Lắk; Nơi thường trú: Khu
phố T, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (nay là Khu phố T, phường Đ, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Kỳ T, sinh năm 1982; con bà Huỳnh Thị Bích N sinh năm 1982; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/6/2025.
Bị hại: Em Nguyễn Hoàng Triệu M, sinh năm 2009; Địa chỉ: X Đường số 8,
phường L, thành phố T (nay là phường L), Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Nguyễn Hoàng V và bà Nguyễn
Thị L; Cùng địa chỉ: X Đường số 8, phường L, thành phố T (nay là phường L), Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin xét xử vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Luật sư Trần Ngọc Anh
Trâm – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước số 1 Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người bào chữa: Bà Dương Thị Tường Vân – Công ty Luật TNHH Nhân
thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, quá trình xét hỏi và tranh luận tại
phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 27/11/2024, chị Nguyễn Thị L (sinh năm 1979) và cháu Nguyễn Hoàng
Triệu M (sinh ngày 02/7/2009) đến Công an phường P, thành phố T (nay là Công an phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) trình báo vụ việc cháu M quan hệ tình dục với Nguyễn Huỳnh Công H (sinh ngày 27/8/2005). Sau khi tiếp nhận, Công an phường truy xét đưa Nguyễn Huỳnh Công H về trụ sở làm việc. Tại Cơ quan điều tra, cháu M và H khai nhận như sau: Khoảng tháng 10/2024, H quen biết M qua mạng xã hội Facebook, sau đó nảy sinh tình cảm yêu đương với nhau. Từ ngày 24/10/2024 đến ngày 20/11/2024, H nhiều lần quan hệ tình dục với cháu M, cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 21 giờ ngày 24/10/2024, sau khi chở cháu M đi
xem phim ở Làng đại học xong, H chở cháu M đến Khách sạn Hoa Lan, địa chỉ: X đường 22, phường P, thành phố T (nay là phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) thuê phòng 305. Sau đó, cả hai cùng lên phòng 305 và cùng nằm trên giường nói chuyện khoảng 15 phút thì H nói cho H quan hệ tình dục, cháu M đồng ý. H tự cởi quần áo của H và của cháu M ra, H yêu cầu cháu M dùng miệng ngậm dương vật và dùng tay xoa bóp dương vật của H, được khoảng được 05 phút cháu M nằm ngửa xuống giường. Lúc này, H quỳ hai đầu gối xuống giường để hai chân của cháu M lên trên đùi H, dùng tay phải cầm dương vật đang cương cứng đưa vào trong âm đạo cháu M đưa ra đưa vào khoảng 05 phút thì thấy âm đạo cháu M chảy máu nên H lấy ra 01 bao cao su để trong túi đeo chéo của H ra mang vào dương vật. Sau đó, H nói với cháu M qua ghế tình yêu quan hệ tình dục tiếp. Cháu M nằm ngửa trên ghế, còn H ngồi trên ghế để hai chân cháu M lên hai đùi H, dùng tay phải cầm dương vật đang cương cứng đưa vào trong âm đạo cháu M đưa ra đưa vào khoảng 30 phút thì cháu M kêu đau nên H dừng lại rồi ôm cháu M ngủ đến sáng và trả phòng đi về.
Lần thứ hai: Khoảng 16 giờ ngày 07/11/2024, H nhắn tin qua Messenger rủ
cháu M đi khách sạn quan hệ tình dục, cháu M đồng ý. H đi xe mô tô đến nhà cháu M chở cháu M đến Khách sạn Phúc Bảo Gia, số 19/1 Quốc lộ 1K, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh) thuê phòng (không ai nhớ rõ số phòng). Khi vào phòng, cháu M dùng tay sờ và ngậm dương vật H được một lúc thì H mang bao cao su vào dương vật và cầm dương vật đang cương cứng đưa vào âm đạo đưa ra đưa vào khoảng 10 phút, cháu M kêu đau nên H dừng lại và không quan hệ nữa. Trong lúc quan hệ tình dục H có dùng điện thoại của H quay lại cảnh cả hai quan hệ tình dục thì bị cháu M phát hiện và xóa hết clip, sau đó cả hai trả phòng đi về.
Lần thứ ba: Khoảng 16 giờ ngày 20/11/2024, H tiếp tục nhắn tin qua
Mesenger rủ cháu M đi khách sạn quan hệ tình dục, M đồng ý. Sau đó, H đến nhà M chở M đến Khách sạn Phúc Bảo Gia, số 19/1 Quốc lộ 1K, phường Đ, thành phố D, Bình Dương (nay là phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh) thuê phòng (không nhớ số phòng). Tại đây, cháu M đồng ý để H cởi hết quần áo, sau đó cháu M ngậm dương vật H được một lúc thì H cầm dương vật đang cương cứng đưa vào âm đạo của cháu M, do bị đau âm đạo nên cháu M đẩy H ra, sau đó cả hai trả phòng đi về.
- Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 160/KLTDTE-TTPY.2024
ngày 18/12/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế thành phố Hồ Chí Minh, đối với Nguyễn Hoàng Triệu M, kết luận:
+ Màng trinh: Không rách.
+ Không thấy tinh trùng trong dịch phết âm đạo, vùng âm hộ và hậu môn.
+ Chỉ hiện diện ADN người nam trong dịch phết vùng âm hộ nhưng không
đủ làm cơ sở so sánh với ADN của đối tượng.
- Kết luận giám định ADN số 1.339A-2024/KLGDADN-TTPY ngày
18/12/2024 của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh, đối với Nguyễn Huỳnh Công H, kết luận:
+ Đã lập được hồ sơ ADN trên các nhiễm sắc thể của Nguyễn Huỳnh Công
H.
+ Đã lập được hồ sơ ADN trên nhiễm sắc thể Y của Nguyễn Huỳnh Công H.
* Thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật, xử lý vật chứng: 01 USB chứa hình ảnh
Nguyễn Huỳnh Công H và cháu Nguyễn Hoàng Triệu M đến thuê phòng 305, khách sạn Hoa Lan (Lưu kèm hồ sơ vụ án).
* Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị L là mẹ ruột của cháu Nguyễn
Hoàng Triệu M không yêu cầu bồi thường, đồng thời có đơn bãi nại xin giảm trách nhiệm hình sự đối với Nguyễn Huỳnh Công H.
Tại Cáo trạng số 339/CT-VKSKV2 ngày 30 tháng 12 năm 2025 của Viện
kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Huỳnh Công H về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh giữ
quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ
luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025 xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh Công H từ 3 năm 6 tháng đến 4 năm tù.
- Về vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định.
Bị cáo Nguyễn Huỳnh Công H khai nhận đã nhiều lần thực hiện quan hệ tình
dục với cháu Nguyễn Hoàng Triệu M như đã khai tại cơ quan điều tra. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.
Ý kiến của Người bào chữa cho bị cáo: Đồng ý với ý kiến của Đại diện Viện
kiểm sát về cáo trạng cũng như bản luận tội. Người bào chữa đề nghị xem xét bị cáo được giảm nhẹ hình phạt với mức án là dưới khung hình phạt theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025 và cho hưởng án treo theo quy định của pháp luật, khi bị cáo có trên 2 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong đó có điểm s và t Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, 2025. Ngoài ra, tại phiên tòa gia đình bị cáo có bổ sung tài liệu ông bà là người có công với cách mạng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến của người bào chữa.
Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại chưa
thành niên: Đồng ý với truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá các tình tiết, tài liệu chứng cứ trong vụ án để tuyên xử một bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi
phạm pháp luật. Bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về thủ tục tố tụng: Bị hại vắng mặt và người đại diện hợp pháp của bị hại
là bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Hoàng V vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét việc bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Hoàng V vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025, Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại là bà Nguyễn Thị L và ông Nguyễn Hoàng V.
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành
phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
. Về tội danh và khung hình phạt: Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị
cáo Nguyễn Huỳnh Công H tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, qua
xét hỏi bị cáo Nguyễn Huỳnh Công H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội.
Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận giám định và các
tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian các ngày 24/10/2024, 07/11/2024 và 20/11/2024,
tại Khách sạn Hoa Lan (phường P, Thành phố Hồ Chí Minh) và Khách sạn
Phúc Bảo Gia (phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh), bị cáo Nguyễn Huỳnh
Công H đã 03 lần thực hiện hành vi giao cấu và quan hệ tình dục khác với cháu
Nguyễn Hoàng Triệu M (sinh ngày 02/7/2009). Tại thời điểm xảy ra các lần
quan hệ, cháu M chưa đủ 16 tuổi.
Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Huỳnh Công
H đã phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” với tình
tiết định khung là “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm a khoản 2
Điều 145 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Thành phố Hồ Chí
Minh truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng
pháp luật.
. Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Nguyễn Huỳnh Công H không có tình tiết tăng
nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa, người bào chữa cho rằng bị cáo thuộc
trường hợp “người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án” thuộc điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sủa đổi bổ sung năm 2017, 2025. Hội đồng xét xử cho rằng lập luận này không có cơ sở, bởi lẽ tình tiết “Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án” được hiểu là trường hợp sau khi thực hiện tội phạm, người phạm tội chủ động, tích cực giúp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, tạo ra những biến đổi, thay đổi tích cực trong việc phát hiện, chứng minh tội phạm và giải quyết vụ án, góp phần làm cho việc giải quyết vụ án được thực hiện nhanh chóng, hiệu quả hơn. Hành vi “tích cực hợp tác” phải thể hiện cụ thể qua việc cung cấp thông tin, tài liệu, đồ vật có ý nghĩa thiết thực cho việc phát hiện, chứng minh tội phạm và giải quyết vụ án; chỉ dẫn nơi cất giấu vật chứng, công cụ, phương tiện phạm tội; hoặc cung cấp thông tin về nơi trốn tránh của đồng phạm khác được căn cứ tại khoản 18 Điều 2 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điều 51 và điều 52 của Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Huỳnh Công H chỉ khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai trên là phù hợp với lời khai của bị hại là cháu Nguyễn Hoàng Triệu M. Bị cáo không có lời khai hay cung cấp tài liệu, chứng cứ nào có nội dung thể hiện sự tích cực hợp tác với cơ quan chức năng trong việc nhanh chóng làm sáng tỏ vụ án, giúp các cơ quan phát hiện thêm tội phạm mới hoặc đồng phạm mới, cũng như phát hiện, điều tra, xử lý tội phạm. Việc thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi phạm tội là nghĩa vụ của bị cáo, thuộc trường hợp điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự đúng như đại diện Viện kiểm sát luận tội. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sủa đổi bổ sung năm 2017, 2025 dành cho bị cáo.
Ngoài ra, gia đình bị cáo nộp các tài liệu để cho rằng gia đình bị cáo là người
có công với cách mạng, nhưng không chứng minh được mối quan hệ nhân thân và không có xác nhận của chính quyền địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử không chấp nhận tài liệu chứng cứ này của bị cáo.
Xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn
Huỳnh Công H có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, gia đình bị cáo. Đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025.
. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo:
Bị cáo Nguyễn Huỳnh Công H đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có đủ năng
lực trách nhiệm hình sự; bị cáo nhận thức được hành vi quan hệ tình dục với người từ đủ 13 tuổi và dưới 16 tuổi là vi phạm quy định pháp luật nhưng vì ham muốn dục vọng vẫn cố tình thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh bình thường về thể chất, tâm sinh lý của trẻ em là đối tượng được pháp luật quan tâm bảo vệ. Hành vi phạm tội bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, gây tư tưởng hoang mang lo lắng trong cộng đồng dân cư nơi có tội phạm xảy ra, tác động ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo và phòng ngừa tội phạm.
. Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại cháu Nguyễn Hoàng Triệu M và đại diện hợp pháp không yêu cầu bị
cáo Nguyễn Huỳnh Công H bồi thường thiệt hại. Hội đồng xét xử ghi nhận.
. Về xử lý vật chứng:
01 (một) USB chứa hình ảnh Nguyễn Huỳnh Công H và cháu Nguyễn Hoàng
Triệu M đến thuê phòng 305, khách sạn Hoa Lan clip liên quan diễn biến vụ án. Xét thấy đây là chứng cứ liên quan đến vụ án nên cần lưu hồ sơ.
. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ
thẩm theo quy định.
. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo, người
bào chữa cho bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Áp dụng Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ
sung năm 2017, 2025.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huỳnh Công H phạm tội “Giao cấu với người từ đủ
13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 145; điểm s khoản 1, khoản
2, Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2025.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Huỳnh Công H 4 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ
ngày 10/6/2025.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi,
bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Lưu hồ sơ vụ án 01 USB (một) chứa hình ảnh Nguyễn Huỳnh Công H và
cháu Nguyễn Hoàng Triệu M đến thuê phòng 305, khách sạn Hoa Lan (Lưu kèm hồ sơ vụ án).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình
sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021, 2025; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Huỳnh Công H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn
đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2021, 2025;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15
ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; - Viện kiểm sát nhân dân Kv.2, TP. HCM; - Viện kiểm sát nhân dân TP. Hồ Chí Minh; - Phòng PV06, PC10 - Công an TP Hồ Chí Minh; - Thi hành án dân sự TP Hồ Chí Minh; - Thi hành án hình sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thu Phương |