vanban.org

Bản án 498/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Mỹ T.

Về hôn nhân: Chị Lê Thị Mỹ T được ly hôn với anh Lê Văn D. Về con chung: Giao cho chị Lê Thị Mỹ T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung tên Lê Thị Thúy V, sinh ngày 03/02/2009 đến thành niên hoặc tự lập được; Anh Lê Văn D không phải cấp dưỡng cho con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Mỹ T.
  • Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN,
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 498/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 13 – 8 - 2024
V/v tranh chấp “Ly hôn và nuôi
con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Dương Bích Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Văn Tám

2. Ông Trương Thanh Nhàn

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Nam - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 172/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024, về việc “Ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 347/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa:

1. Nguyên đơn: chị Lê Thị Mỹ T, sinh năm 1990 (vắng mặt).

Nơi cư trú: tổ E, ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: anh Lê Văn D, sinh năm 1985 (vắng mặt).

Nơi cư trú: Số nhà C, tổ F, ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn đề ngày 15/02/2024, bản tự khai, biên bản không tiến hành hòa giải được nguyên đơn chị Lê Thị Mỹ T trình bày:

Sau thời gian tìm hiểu nhau về tình cảm, chị T và anh D thành vợ chồng, có tổ chức đám cưới vào tháng 10/2007 âl. Đến tháng 08/2008, anh chị có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H, huyện P, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 85, quyển số 01/2008 ngày 16/8/2008. Thời gian đầu sống hạnh phúc, đến năm 2014 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, thường xuyên cãi nhau, anh D có người phụ nữ khác, không lo cho vợ con nên chị đã nhiều lần khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh D, nhưng được gia đình hàn gắn nên rút đơn ly hôn để chung sống lại. Đến năm 2021, chị T tiếp tục phát hiện anh D không chung thuỷ có tình cảm với người khác nên chị và anh D chính thức ly thân cho đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được nữa nên chị T yêu cầu ly hôn với anh D.

Về con chung: có 01 con chung tên Lê Thị Thúy V, sinh ngày 03/02/2009, hiện đang sống với chị T. Chị T yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh D cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung: Tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về nợ phải thu, phải trả: Không có.

Ngoài ra không có ý kiến nào khác.

- Bị đơn anh Lê Văn D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, không có lời trình bày.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Toà án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật.

- Về nội dung: Hôn nhân của chị T và anh D được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ; quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, từ khi ly thân đến nay không hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nay chị T yêu cầu ly hôn anh D thì đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về con chung chị T và anh D có 01 con chung tên Lê Thị Thúy V, sinh ngày 03/02/2009, hiện đang sống với chị T. Chị T yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh D cấp dưỡng cho con cho con nên đề nghị HĐXX giao con chung cho chị T tiếp tục chăm sóc nuôi dưỡng; Về án phí, nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Chị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh D và yêu cầu nuôi con chung nên xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp ly hôn và nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền giải quyết: Anh Lê Văn D là bị đơn có nơi cư trú tại ấp H, xã H, huyện P, tỉnh An Giang, căn cứ điểm a khoản Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.

Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh D đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt tại phiên toà lần thứ 02 không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hay trở ngại khách quan; nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh, chị theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh D. Xét chứng cứ có trong hồ sơ cùng kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa thể hiện, hôn nhân của anh chị được xác lập năm 2008 trên cơ sở tự tìm hiểu và chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn được pháp luật thừa nhận. Tuy nhiên, cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng đã ly thân từ năm 2021 đến nay. Trong quá trình ly thân vợ chồng không hàn gắn được tình cảm, mỗi người sinh sống mỗi nơi, không ai quan tâm ai, từ đó dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, chị T yêu cầu ly hôn anh D là có căn cứ được chấp nhận theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về nuôi con chung: có 01 con chung tên Lê Thị Thúy V, sinh ngày 03/02/2009, cháu V hiện đang sống với chị T.

Xét thấy, từ khi ly thân đến nay cháu V do chị T trực tiếp chăm sóc, giáo dục, đảm bảo phát triển bình thường về thể chất, tinh thần và cháu V có nguyện vọng sống với mẹ; nên căn cứ quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014, cần giao con chung cho chị T tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con đến thành niên hoặc tự lập được, do chị T không yêu cầu anh D cấp dưỡng nên anh D không phải cấp dưỡng cho con. Chị T phải tạo mọi điều kiện thuận lợi khi anh D đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở.

Trường hợp, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con. Mặt khác, nếu có căn cứ cho rằng, chị T không còn đảm bảo các điều kiện nuôi dạy con hoặc có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con thì anh D có quyền làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: Các bên không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Ghi nhận lời trình bày của đương sự không có nợ chung, nhưng sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị T và anh D phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

Ngoài ra, các bên không tranh chấp về vấn đề gì khác nên không đặt ra xem xét.

Về án phí: Chị T phải chịu án phí theo qui định pháp luật. Anh D không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227, Điều 228, Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 26; khoản 5, khoản 6 Điều 27 và khoản 1 Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Mỹ T.

1. Về hôn nhân: Chị Lê Thị Mỹ T được ly hôn với anh Lê Văn D.

2. Về con chung: Giao cho chị Lê Thị Mỹ T được tiếp tục trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung tên Lê Thị Thúy V, sinh ngày 03/02/2009 đến thành niên hoặc tự lập được; Anh Lê Văn D không phải cấp dưỡng cho con.

Chị Lê Thị Mỹ T phải tạo mọi điều kiện thuận lợi khi anh Lê Văn D đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung; không ai được quyền cản trở.

3. Về tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị Mỹ T phải chịu án phí là 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0006735 ngày 12/3/2024 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang (đã nộp đủ). Anh D không phải chịu án phí.

Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ