vanban.org

Bản án 498/2023/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Đồng Nai Tuyên án 20/12/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 20/12/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Đình H; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 127/2023/HS-ST ngày 14/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. [2] Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đình H - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
  • Căn cứ chính? Điều 178 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 498/2023/HS-PT
Ngày: 20-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hồng Hương

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Trung Hưng

Bà Nguyễn Thị Lệ Trang

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 371/2023/TLPT-HS ngày 05 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo Vũ Đình H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 127/2023/HS-ST ngày 14/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

- Bị cáo có kháng cáo:

Vũ Đình H, sinh năm 1984 tại tỉnh Tiền Giang; Nơi đăng ký thường trú: khu phố X, phường Y, thị xã O, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị K (đã chết); Chưa có vợ, con;

Tiền án: 07 tiền án:

- Tại Bản án số 01/2008/HSST ngày 15/01/2008 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang xử phạt 36 (ba mươi sáu) tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”;

- Tại Bản án số 22/2008/HSPT ngày 20/02/2008 của Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xử phạt 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 18/8/2009;

- Tại Bản án số 04/2010/HSST ngày 16/3/2010 của Tòa án nhân dân thị xã Gò Công, tỉnh Tiền Giang xử phạt 02 (hai) năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/10/2011;

- Tại Bản án số 55/2012/HSST ngày 03/8/2012 của Tòa án nhân dân huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang xử phạt 03 (ba) năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 15/02/2015;

- Tại Bản án số 348/2016/HSPT ngày 10/11/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 07 (bảy) năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”;

- Tại Bản án số 143/2017/HS-PT ngày 19/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An xử phạt 04 (bốn) năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt 07 (bảy) năm tù Bản án số 348/2016/HSPT ngày 10/11/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp buộc phải chấp hành phạt chung là 11 (mười một) năm tù;

- Tại Bản án số 216/2021/HS-PT ngày 07/7/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xử phạt 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Hủy hoại tài sản”. Tổng hợp với phần hình phạt còn chưa chấp hành tại Bản án số 143/2017/HS-PT ngày 19/12/2017 của Tòa án nhân dân tỉnh Long An là 06 năm 02 tháng 13 ngày, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 08 (tám) năm 08 (tám) tháng 13 (mười ba) ngày tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2021.

Tiền sự: Không.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Nai. (Có mặt)

Ngoài ra, còn có bị hại không có kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Đình H là phạm nhân đang chấp hành án tại đội phạm nhân số 8, phân trại số 02 - Trại giam E. Khoảng 06 giờ 22 phút ngày 08/8/2022, H đi bộ ra phía sau Buồng giam I.2 lấy 01 cục bê tông kích thước (10x10) cm tại vị trí cống thoát nước rồi đem vào trong Buồng giam I.2 dùng tay phải ném cục bê tông 03 lần liên tiếp vào màn hình ti vi nhãn hiệu Samsung 40 inch đang treo tên tường gây hư hỏng, riêng cục bê tông vỡ thành nhiều mảnh. Thông qua hệ thống Camera giám sát theo dõi phạm nhân của Trại giam E, cán bộ quản giáo đã đến hiện trường ghi nhận sự việc và tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang đối với Vũ Đình H.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐG ngày 17/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Uỷ ban nhân dân huyện I, kết luận: Giá trị còn lại của 01 ti vi nhãn hiệu Samsung 40 inch, mã sản phẩm UA40M5000AKXXV, phiên bản DB02, đã qua sử dụng là 3.000.000 đồng.

* Vật chứng vụ án thu giữ:

- 01 ti vi nhãn hiệu Sam sung 40 inch, mã sản phẩm UA40M5000AKXXV, phiên bản DB02 (đã bị Vũ Đình H dùng cục bê tông ném bể màn hình gây hư hỏng).

- 01 đoạn dữ liệu điện tử (camera ghi hình) ghi lại diễn biến hành vi hủy hoại tài sản vào ngày 08/8/2022 tại Buồng giam I.2, phân trại số 2- Trại giam E đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Xuân Lộc sao lưu vào 01 đĩa DVD.

- 03 cục bê tông nhỏ không xác định được hình khối.

* Trách nhiệm dân sự: Người đại diện hợp pháp của Trại giam E là ông Nguyễn Đức T yêu cầu Vũ Đình H bồi thường về dân sự số tiền 3.000.000 đồng đối với tài sản bị thiệt hại theo như kết luận định giá tài sản. Hiện Vũ Đình H chưa bồi thường.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 127/2023/HS-ST ngày 14/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai đã áp dụng điểm g khoản 2 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt: bị cáo Vũ Đình H 03 (Ba) năm tù về tội “Hủy hoại tài sản”.

Tổng hợp với Bản án hình sự phúc thẩm số 216/2021/HS-PT ngày 07 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai là 08 (Tám) năm 08 (Tám) tháng 13 (Mười ba) ngày tù. Buộc bị cáo Vũ Đình H phải chấp hành hình phạt chung là 11 (Mười một) năm 08 (Tám) tháng 13 (Mười ba) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2021.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 24/7/2023, bị cáo Vũ Đình H kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xem xét, điều tra việc cán bộ điều tra không điều tra hết sự thật và làm sai lệch biên bản ghi lời khai. Tại phiên tòa, bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét kháng cáo của bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa nêu quan điểm vụ án:

Căn cứ vào lời khai tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, xét kháng cáo của bị cáo Vũ Đình H: Bị cáo H đã có hành vi dùng cục bê tông gây hư hỏng màn hình ti vi nhãn hiệu Samsung 40 inch, giá trị tài sản bị thiệt hại là 3.000.000 đồng. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo H về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Bị cáo không kháng cáo về tội danh và hình phạt mà cấp sơ thẩm đã tuyên buộc đối với bị cáo nhưng lại đề nghị xem xét hành vi của Điều tra viên trong vụ án. Hội đồng xét xử đã giải thích cho bị cáo nhưng bị cáo vẫn đề nghị xem xét kháng cáo nhưng cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị cáo H; đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai. Đối với đơn tố cáo của bị cáo đã được cấp sơ thẩm chuyển đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Vũ Đình H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu, cụ thể:

Vào ngày 08/8/2022, tại Buồng giam I.2, phân trại số 2 - Trại giam E, bị cáo Vũ Đình H đã có hành vi dùng cục bê tông ném 03 lần liên tiếp vào màn hình ti vi nhãn hiệu Samsung 40 inch gây hư hỏng. Giá trị tài sản bị thiệt hại là 3.000.000 đồng (Theo Bản kết luận định giá tài sản số 38/KL-HĐĐG ngày 17/8/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Uỷ ban nhân dân huyện I).

Bị cáo H có 07 tiền án, chưa được xóa án tích mà còn phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, với hành vi phạm tội nêu trên, bị cáo Vũ Đình H đã bị Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt về tội “Hủy hoại tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự quản lý của trại giam nơi bị cáo đang chấp hành án. Trong vụ án này, bị cáo nhận thức được việc hủy hoại tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả xảy ra, bị cáo đã nhiều lần bị kết án trong đó có tội “Hủy hoại tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học, sửa chữa bản thân mà lại tiếp tục phạm tội. Cho thấy, bị cáo không ăn năn hối cãi, coi thường pháp luật. Do đó, mức án 03 (Ba) năm tù cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo có phần nghiêm nhưng tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo và có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xác định một mình bị cáo thực hiện hành vi hủy hoại tài sản (không có đồng phạm) nhưng bị cáo vẫn cho rằng cấp sơ thẩm điều tra không đầy đủ có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm nên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét, hủy Bản án sơ thẩm để điều tra việc cán bộ điều tra đã không điều tra hết sự thật khách quan của vụ án và cố ý làm sai lệch biên bản ghi lời khai của bị cáo. Xét thấy, tại các phiên tòa bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như Bản án sơ thẩm nêu (xác định không có đồng phạm), bị cáo không có ý kiến đối với tội danh và mức hình phạt của bản án sơ thẩm. Do đó, kháng cáo của bị cáo không có căn cứ chấp nhận như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Đối với đơn khiếu nại, tố cáo của bị cáo đã được cấp sơ thẩm chuyển cho cơ quan có thẩm quyền giải quyết theo quy định nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;

Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Vũ Đình H; Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 127/2023/HS-ST ngày 14/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai.

[2] Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 178; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt:

Bị cáo Vũ Đình H 03 (Ba) năm tù về tội “Hủy hoại tài sản”.

Tổng hợp với Bản án hình sự phúc thẩm số 216/2021/HS-PT ngày 07 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai là 08 (Tám) năm 08 (Tám) tháng 13 (Mười ba) ngày tù. Buộc bị cáo Vũ Đình H phải chấp hành hình phạt chung là 11 (Mười một) năm 08 (Tám) tháng 13 (Mười ba) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/4/2021.

[3] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ