- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thanh Hà- tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 249 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Về căn cứ áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 498/2022/HSST Ngày 28-11- 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Duyên
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kim Thu
2. Ông Chu Văn Hùng
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đức Chính, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hương Thảo - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 490/2022/TLST-HS, ngày 28 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 467/2022/QĐXXST- HS ngày 14 tháng 11 năm 2022, đối với:
- Bị cáo:Lê Thanh H, tên gọi khác: Không; Sinh năm 1974
Nơi cư trú: Tổ 10, phường QT, thành phố TN, tỉnh TN.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không; con ông: Lê Kim C(đã chết) và con bà Đỗ Thị H, sinh năm 1943; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là con thứ 4; Vợ là Vũ Thị H, sinh năm 1984; có 01 con sinh năm 2006.
Tiền án: Không
Tiền sự: Tại Quyết định số 61/2019/QĐ-TA ngày 31/01/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên áp dụng biện pháp xử lý Hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian 16 tháng. Chấp Hành xong ngày 06/7/2021.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/9/2022 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Thái Nguyên (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Người chứng kiến: Ông Vũ Quốc T, sinh năm 1962 (vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 6, phường TV, thành phố TN, tỉnh TN
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 55 phút ngày 20/9/2022, tổ công tác Công an phường Trưng Vương, thành phố Thái Nguyên đang làm nhiệm vụ tại khu vực phường thì phát hiện một người đàn ông có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy, tổ công tác đã yêu cầu kiểm tra và mời người chứng kiến. Người đàn ông khai tên là Lê Thanh H. Qua kiểm tra, tổ công tác phát hiện tại túi quần phía trước bên trái H đang mặc 01 gói giấy bạc màu vàng bên trong chứa chất bột màu trắng, H khai nhận đó là Heroine của H mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người có Hnh vi phạm tội quả tang đối với H và niêm phong vật chứng theo quy định.
Cùng ngày, cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên tiến Hnh mở niêm phong, cân xác định trọng lượng số chất bột màu trắng thu giữ của Lê Thanh H có khối lượng là 0,123 gam và lấy toàn bộ cho vào phong bì niêm phong ký hiệu H gửi giám định.
Tại Bản kết luận giám định số 1485/KL-KTHS ngày 28/9/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên kết luận: Mẫu chất bột màu trắng trong phong bì kí hiệu H gửi giám định là chất ma túy, loại: Heroine. Khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,123 gam
Tại Cơ quan điều tra, Lê Thanh H khai nhận: Khoảng 07 giờ 25 phút ngày 20/9/2022, H đi bộ từ nhà đến khu vực cầu Gia Bẩy, thuộc phường Đ ng Bẩm,thành phố Thái Nguyên để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, H gặp và mua được của 01 người đàn ông không quen biết 01 gói ma túy Heroine gói bằng giấy bạc màu vàng với giá 100.000 đ ng. H cất gói ma túy vào túi quần phía trước bên trái đang mặc r i đi tìm nơi sử dụng. Khi H đi đến khu vực tổ 02, phường Trưng Vương, thành phố Thái Nguyên thì bị tổ công tác công an phường Trưng Vương, thành phố Thái Nguyên phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.
Vật chứng của vụ án g m: 01 bì niêm phong ký hiệu H bên trong chứa chất ma tuý và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu L bên trong chứa vỏ bao mẫu niêm phong ban đầu. Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi Hnh án dân sự thành phố Thái Nguyên chờ xử lý.
Do có Hnh vi nêu trên, nên tại bản cáo trạng số 503/CT-VKSTPTN, ngày 27/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Lê Thanh H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ Hnh vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, thừa nhận việc truy tố, xét xử bị cáo với tội danh và điều luật đã viện dẫn là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Phần luận tội tại phiên tòa, sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, mức độ Hnh vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố như bản cáo trạng số 503/CT-VKSNDTP ngày 27/10/2022 đối với bị cáo, đề nghị Hội đ ng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thanh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Thanh H mức án từ 18 đến 21 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 bì niêm phong ký hiệu H bên trong chứa 0,113 gam ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu L chứa vỏ bao mẫu ban đầu.
Ngoài ra còn đề nghị về phần án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, Bị cáo không tranh luận gì với quan điểm đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX xét xem cho được hưởng mức án thấp nhất để sớm trở về với gia đình, xã hội và thành người có ích cho xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong h sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tính hợp pháp của Hnh vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Nguyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về Hnh vi, quyết định của cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng. Do đó, các Hnh vi, quyết định của cơ quan tiến Hnh tố tụng, người tiến Hnh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về Hnh vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Lê Thanh H tại phiên toà hôm nay là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định, lời khai của người tham gia tố tụng khác, vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ khác có trong h sơ vụ án. Hội đ ng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Vào h i 07 giờ 55 phút, ngày 20/9/2022, tại khu vực tổ 2, phường Trưng Vương, thành phố Thái Nguyên, Lê Thanh H đã có Hnh vi tàng trữ trái phép 0,123 gam ma túy loại Heroin, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Ngu n gốc số ma túy trên theo H khai là mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực Cầu Gia Bẩy, thuộc phường Đ ng Bẩm, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên với số tiền là 100.000đ.
Hành vi tàng trữ trái phép 0,123 gam ma túy, loại Heroin, nhằm mục đích sử dụng cho bản thân của Lê Thanh H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng số 503/CT-VKSTPTN ngày 27/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ.
Điều 249 Bộ luật hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:.
...
c) Heroin…..có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
[3]. Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của Hnh vi phạm tội, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, làm suy giảm sức khỏe con người, làm phát sinh các loại tội phạm khác và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Nên cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[4]. Xét các yếu tố về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy rằng:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực Hnh vi và năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được Hnh vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật. Bị cáo không có tiền án nhưng có một tiền sự, năm 2019 đã bị Tòa án nhân dân thành phố Thái Nguyên áp dụng biện pháp xử lý Hnh chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, đến tháng 7/2021 chấp Hnh xong Quyết định, bị cáo không lấy đó làm bài học, không chịu rèn luyện tu dưỡng bản thân để trở thành người có ích cho gia đình và xã hội mà vì nhu cầu bản thân tiếp tục đi vào con đường nghiện ngập, phạm tội.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận Hnh vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải, vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là“Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng TNHS nào quy định tại Điều 52 BLHS.
Xét tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của Hnh vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân, HĐXX thấy rằng cần cách ly bị cáo ra hỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, mới đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật, đ ng thời răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
Mức án mà đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Nguyên đề nghị áp dụng đối với bị cáo là phù hợp.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS, thì:
“5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm Hnh nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Tuy nhiên xét thấy bị cáo phạm tội không vì mục đích lợi nhuận, là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản gì nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6]. Việc xử lý đối tượng liên quan đến vụ án:
Ngu n gốc số ma túy loại Heroin, Lê Thanh H khai mua của một người đàn ông không quen biết (không rõ họ tên, địa chỉ) tại khu vực Cầu Gia Bẩy, phường Đ ng Bẩm, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình điều tra không đủ căn cứ để xác định người đàn ông trên, nên cơ quan Cảnh sát điều tra không có căn cứ để xử lý.
. Vật chứng vụ án:
01 bì niêm phong ký hiệu H bên trong chứa 0,113 gam ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu L chứa vỏ bao mẫu ban đầu là vật cấm lưu thông và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về căn cứ áp dụng pháp luật: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự.
2. Về tội danh và hình phạt:
2.1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Thanh H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
2.2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Thanh H 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/9/2022.
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo công tác thi Hnh án.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01 bì niêm phong ký hiệu H bên trong chứa 0,113 gam ma túy và vỏ bao mẫu hoàn lại sau giám định, mặt sau bì có 03 dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Nguyên và chữ ký của Nguyễn Minh Thanh và Ma Nhật Anh.
+ 01 bì niêm phong ký hiệu L bên trong chứa vỏ bao mẫu ban đầu, mặt sau bì có 03 dấu tròn đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Thái Nguyên và chữ ký của Nguyễn Văn Huynh, Nguyễn Cảnh Tuấn, Vũ Quốc Tuấn, Trần Văn Hòe, Đỗ Thu H, Lê Thanh H.
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng số 118 giữa Công an thành phố Thái Nguyên với Chi cục Thi Hnh án dân sự thành phố Thái Nguyên, ngày 16/11/2022).
4. Án phí: Căn cứ vào Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Thanh H phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đ ng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách nhà nước.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND tỉnh Thái Nguyên; - VKSND thành phố Thái Nguyên; - Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên - Công an thành phố Thái Nguyên; - Chi cục THADS thành phố Thái Nguyên; - Bị cáo; - Lưu h sơ./. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Duyên |