- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xin ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Mai Thị Bích H được ly hôn với ông Nguyễn Văn V.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 498 /2022/HNGĐ-ST Ngày: 29 - 11 -2022. V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PH
Thành ph n H i đ ng xét x g m có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Bảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Lê Hữu Danh
2/ Ông Trần Thành Chúng
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Vũ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy– Kiểm sát viên.
Trong ngày 29 tháng 11 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 382/2022/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2022 về việc: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 755/2022/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Mai Thị Bích H, sinh năm 1996 - địa chỉ: 6792, tổ 2, ấp Hà Bao 2, xã ĐP, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn V, sinh năm 1998 - địa chỉ: Tổ 01, khu dân cư Khánh Hòa, ấp Khánh Hoà, xã K, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
(Bà H có đơn xin xét xử vắng mặt, ông V vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà H trình bày: Hôn nhân giữa bà và ông V được xác lập trên cơ sở mai mối, đăng ký kết hôn tại UBND xã ĐP vào ngày 27/12/2018. Thời gian đầu chung sống cũng không hạnh phúc, tuy nhiên gần đây thường xảy ra cự cãi do bất đồng quan điểm sống, ông V thường đánh đập bà và cả hai đã không còn sống chung từ tháng 7 năm 2022 cho đến nay. Trong thời gian không chung sống ông V cũng có động viên hàn gắn lại tình cảm gia đình nhưng bà không chịu. Nay cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, xin ly hôn.
Con chung: Mai Thị Ngọc G, sinh ngày 15/02/2014. Hiện sống với bà H.. Nếu ly hôn bà yêu cầu nuôi con, không yêu cầu cấp dưỡng.
Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt các thông báo thụ lý, hòa giải cũng như thông báo về việc tiếp cận, công khai chứng cứ cho ông V theo quy định và ông nhận trực tiếp nhưng không tham gia hoà giải và không có ý kiến.
Cháu G có văn bản trình bày nguyện vọng: Muốn sống chung với mẹ khi cha, mẹ ly hôn.
Tại phiên tòa, bà H có đơn xin xét xử vắng mặt và bảo lưu ý kiến. Ông V vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
Đại diện Viện Kiểm sát thực hành quyền kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa phát biểu: Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong quá trình hòa giải, xác minh thu thập chứng cứ, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng… là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, tại phiên tòa thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.
Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy hôn nhân giữa bà H và ông V có mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H.
- Về con chung: Cháu G đang sống chung với bà H và có nguyện vọng muốn sống với mẹ khi cha mẹ ly hôn nên để đảm bảo điều kiện cho con chung phát triển, ổn định về tâm sinh lý sau này được tốt đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H, giao con chung cho bà được tiếp tục nuôi dạy.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Theo quy định của pháp luật, bên không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên bà H không yêu cầu cấp dưỡng nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Do bà H không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Bà Mai Thị Bích H khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn V. Ông V có nơi cư trú trên địa bàn huyện An Phú. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Ông V được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng, bà H có đơn xin xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông, bà theo khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân:
Hôn nhân giữa bà H và ông V có đăng ký kết hôn theo quy định nên làm phát sinh giá trị pháp lý theo Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu của bà H xin ly hôn với ông V thì thấy: Trong đời sống hôn nhân giữa hai bên thường hay phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, không hòa hợp và cả hai đã không còn chung sống với nhau từ tháng 7 năm 2022 cho đến nay, thời gian không chung sống mặc dù theo bà H thì ông V cũng muốn hàn gắn lại tình cảm gia đình nhưng bà H đều không có ý định tiếp tục hôn nhân; tại các phiên hoà giải bà H vẫn kiên quyết ly hôn; ông V vắng mặt không tham gia các phiên hoà giải để tìm biện pháp hàn gắn lại tình cảm vợ chồng mặc dù đã được tống đạt trực tiếp các Thông báo tố tụng của Tòa án về nội dung và yêu cầu khởi kiện của bà H. Điều này chứng tỏ mâu thuẫn giữa bà H và ông V đã thật sự trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H theo Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Mai Thị Ngọc G, sinh ngày 15/02/2014 hiện đang sống với mẹ và bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, ông V không có không tranh chấp việc nuôi con chung. Cháu G cũng có nguyện vọng muốn sống với mẹ. Do vậy, giao cho bà H được tiếp tục nuôi dạy con chung.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung:
Theo quy định của pháp luật, bên không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, không đề cập trong phần quyết định.
Về tài sản chung, nợ chung:
Do bà H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, không đề cập trong phần quyết định. Trường hợp sau này bà và ông V có tranh chấp về việc chia tài sản chung, giải quyết các khoản nợ chung thì có quyền khởi kiện trong vụ án khác.
Về án phí:
Do yêu cầu của bà H được chấp nhận nên bà phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 9, Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về hôn nhân: Bà Mai Thị Bích H được ly hôn với ông Nguyễn Văn V.
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 187 do Ủy ban nhân dân xã ĐP, huyện An Phú, tỉnh An Giang cấp ngày 27/12/2018 không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Bà H được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Mai Thị Ngọc G, sinh ngày 15/02/2014 hiện đang sống với bà H.
Bà H cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
- Về án phí: Bà Mai Thị Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, được khấu trừ từ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp theo biên lai thu số 0007151 ngày 29/9/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú.
Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú./.
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh AG (1); - VKS tỉnh AG (1); - VKS huyện AP (2); - Các đương sự (2); - THADS huyện AP (1); - UBND xã ĐP, AP (1); - Lưu VP (1); - Lưu HS (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Quang Bảo |