vanban.org

Bản án 498/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 02/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa để xét xử bị can Trần

Trả lại cho Trần Đức Linh 01 (một) giấy phép lái xe ôtô số 7901692 78838 Danh sách những người Viện kiểm sát đề nghị Tòa án triệu tập đến phiên Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "hinh sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa để xét xử bị can Trần
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:498/2021/HS-ST
Ngày: 02 -12- 2021

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trúc Thiện.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Chánh

2. Bà Thiều Thị Phi Loan

- Thư ký Tòa án: Ông Lê Văn Thanh – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Sỹ – Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 12 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 469/2021/TLST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 441/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 9 năm 2021 và thông báo dời lịch xét xử vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 02 tháng 12 năm 2021 đối với bị cáo: Ng V C, sinh năm: 1992; Tại: tỉnh Đồng Nai; Giới tính: Nam;Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: không nơi ở nhất định (ĐKHKTT: tổ 8, khu phố 3, phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai); Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Ngô Văn Minh; sinh năm: 1971 và bà Nguyễn Thị Lời; sinh năm: 1968; bị cáo là con thứ nhất trong, gia đình có 02 anh, em; có vợ Vũ Thị Ánh Thu; sinh năm: 1991 (đã ly hôn); có con Ngô Phát Như Ý; sinh năm: 2013

Tiền án, tiền sự: không

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam theo lệnh bắt bị can để tạm giam từ ngày 18/6/2021 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Biên Hoà.

Bị hại: Anh Tr H V, sinh năm 1996, hộ khẩu thường trú xã Cẩm Bình, huyện Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Tr Th Ph, sinh năm 1970, hộ khẩu thường trú tại tổ 6A, khu phố 3, phường Tân Hiệp, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ng V C là đối tượng không có nghề nghiệp và nghiện ma túy. Khoảng 10 giờ, ngày 28/11/2020, Cảnh đang ở nhà tại địa chỉ nhà không số, tổ 8, khu phố 3A, phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai thì có đối tượng tên Tuấn (không rõ họ, địa chỉ) đến rủ Cảnh đi chơi. Do lúc này các thành viên khác của gia đình Cảnh đều đi vắng, cửa chính và cửa cổng đều bị khóa nên Cảnh nói với Tuấn tìm cách mở giúp, Tuấn đồng ý. Tuấn dùng 01 (một) thanh sắt để cạy bung các ổ khóa của nhà Cảnh. Sau khi mở được cửa, Cảnh nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của gia đình để mang đi cầm cố lấy tiền tiêu xài nên vào trong nhà lấy trộm 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda DH88, biển số 59F1- 623.06 của anh Tr H V, sinh năm 1996, hộ khẩu thường trú xã Cẩm Bình, huyện Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh (là em rể của Cảnh và sinh sống cùng gia đình với Cảnh), rồi Tuấn rủ Cảnh lấy trộm thêm 01 (một) xe đạp nhãn hiệu Standard Chartered của anh Việt, thì Cảnh đồng ý. Sau khi lấy trộm được tài sản, Cảnh và Tuấn đến gặp chị Tr Th Ph, sinh năm 1970, hộ khẩu thường trú tại tổ 6A, khu phố 3, phường Tân Hiệp, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai để cầm xe mô tô biển số 59F1 – 623.06 được số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), số tiền trên, Cảnh và Tuấn tiêu xài hết, còn chiếc xe đạp, Tuấn sử dụng để đi lại.

Sau khi phát hiện tài sản bị mất, anh Tr H V đến công an phường Trảng Dài trình báo. Công an phường lập hồ sơ chuyển cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa giải quyết theo thẩm quyền.

Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, Ng V C đã bỏ trốn, không sinh sống cùng gia đình, đến ngày 23/3/2021, Cảnh bị phát hiện và đưa về trụ sở công an phường Trảng Dài để làm việc. Tại đây, Cảnh đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Vật chứng vụ án: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda DH88, biển số 59F1-623.06 là tài sản của anh Tr H V. Tài sản chưa thu hồi được, do sau khi cầm cho chị Tr Th Ph, đến ngày 08/12/2020, đối tượng tên Tuấn đã đến gặp chị Phương chuộc lại xe rồi mang xe đi, hiện chưa làm việc đươc với đối tượng tên Tuấn nên chưa thu hồi được xe.

01 (một) xe đạp nhãn hiệu Standard Chartered là tài sản của anh Tr H V. Tài sản chưa thu hồi được. Do sau khi lấy trộm xe, Tuấn đã sử dụng xe này để làm phương tiện đi lại, hiện chưa làm việc đươc với đối tượng tên Tuấn nên chưa thu hồi được xe.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 138/KL- HĐĐGTS ngày 05/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Biên Hòa xác định “01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda DH88, biển số 59F1- 623.06 và 01 (một) xe đạp nhãn hiệu Standard Chartered có tổng giá trị định giá là 5.040.000 đồng (Năm triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng)”.

Về dân sự: Bị hại Tr H V không yêu cầu bồi thường.

Tại Bản cáo trạng số 481/CT-VKSBH ngày 17/8/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Ng V C về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 08 (tám) tháng tù đến 10 (mười) tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường. Nên không xem xét.

Trong quá trình điều tra những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì về việc truy tố của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng trong hồ sơ vụ án: Cơ quan điều tra Công an thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, tại phiên tòa bị cáo cũng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng . Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại đơn đề nghị vắng mặt và quá trình điều tra bị cáo khai nhận khoảng 10 giờ ngày 28/11/2020, tại địa chỉ nhà không số, tổ 8, khu phố 3A, phường Trảng Dài, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, Ng V C đã có hành vi trộm cắp 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda DH88, biển số 59F1-623.06 và 01 (một) xe đạp nhãn hiệu Standard Chartered có tổng giá trị là 5.040.000 đồng (Năm triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng) của anh Tr H V thì Cảnh bị phát hiện xử lý theo quy định của pháp luật.

Lôøi khai của bò caùo phuø hôïp vôùi caùc chöùng cöù khaùc theå hieän taïi hoà sô vuï aùn, ñaõ coù ñuû caên cöù ñeå xaùc ñònh haønh vi phaïm toäi cuûa bò caùo. Vieän kieåm saùt nhaân daân thaønh phoá Bieân Hoøa ñaõ truy toá bò caùo Ng V C về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng quy định pháp luật.

[3]Tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, gây mất an ninh, trật tự tại địa phương. Vì vậy cần phải có mức hình phạt nghiêm nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra tại các biên bản ghi lời khai và biên bản hỏi cung bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản thiệt hại đã thu hồi trả cho chủ sỡ hữu nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xem xét quyết định hình phạt khi lượng hình phạt đối với bị cáo.

[4]Về xử lý vật chứng: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda DH88, biển số 59F1- 623.06 là tài sản của anh Tr H V. Tài sản chưa thu hồi được, do sau khi cầm cho chị Tr Th Ph, đến ngày 08/12/2020, đối tượng tên Tuấn đã đến gặp chị Phương chuộc lại xe rồi mang xe đi, hiện chưa làm việc đươc với đối tượng tên Tuấn nên chưa thu hồi được xe. Nên tách ra xử lý sau.

01 (một) xe đạp nhãn hiệu Standard Chartered là tài sản của anh Tr H V. Tài sản chưa thu hồi được. Do sau khi lấy trộm xe, Tuấn đã sử dụng xe này để làm phương tiện đi lại, hiện chưa làm việc đươc với đối tượng tên Tuấn nên chưa thu hồi được xe. Nên tách ra xử lý sau.

Đối với đối tượng tên Tuấn (không rõ họ, địa chỉ) là người cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với Ng V C. Hiện cơ quan điều tra chưa làm việc được với Tuấn nên tách ra tiếp tục xác minh, làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với chị Tr Th Ph có hành vi cầm xe mô tô nhãn hiệu Honda DH88, biển số 59F1- 623.06 của đối tượng tên Tuấn (không rõ họ, địa chỉ) và Ng V C nhưng chị Phương không biết chiếc xe mô tô trên là do đối tượng tên Tuấn và Cảnh trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Biên Hòa không xử lý Hình sự.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Tr H V không yêu cầu bồi thường.

[6]Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[7] Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định về việc giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí lệ phí Tòa án.

Tuyên bố bị cáo Ng V C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Ng V C 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2021.

Trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí HSST: Bị cáo Ng V C phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng). Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

TM. HOÄI ÑOÀNG XEÙT XÖÛ SÔ THAÅM * Nôi nhaän:

Thaåm phaùn – Chuû toïa phieân toøa

- Toøa aùn tænh Ñoàng Nai;

- Sôû tö phaùp tænh Ñoàng;

- VKS TP Bieân Hoøa;

- VKS tỉnh Đồng Nai;

- Thi haønh aùn hình sự;

- Bò caùo; Bị hại; NLQ

- Trại giam TP Biên Hòa;

Nguyễn Trúc Thiện

- Löu VP – HS.

Cỡ chữ