vanban.org

Bản án 498/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

I. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Ngọc Y đối với ông Đinh Văn Đ. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Ngọc Y được ly hôn với ông Đinh Văn Đ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Ngọc Y - Đinh Văn Đ"
  • Tòa quyết gì? Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 498/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 16-7-2020
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

− Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Tuấn Khương

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Vạn

2. Bà Nguyễn Thị Thúy Oanh

− Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh

− Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thái – Kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1198/2019/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2019 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 74/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 95/2020/QĐST-HNGĐ ngày 18 tháng 6 năm 2020 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Ngọc Y, sinh năm: 1985

Địa chỉ: Số 230C khu vực 3, thị trấn M, huyện N, tỉnh Long An.

(Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)

Bị đơn: Ông Đinh Văn Đ, sinh năm: 1983

Địa chỉ: Số 5D38 ấp 5, xã P, huyện Q, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/10/2019 và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn bà Phạm Thị Ngọc Y trình bày:

Bà Y và ông Đinh Văn Đ tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2018, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện N, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận kết hôn số 83/2018 cấp ngày 26/7/2018. Thời gian đầu, cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, nhưng đến cuối năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hòa hợp. Ông Đ thường hay cờ bạc, dẫn đến nợ nần; bà Y đã nhiều lần tha thứ và đứng ra trả nợ cho ông Đ. Vì vậy, dẫn đến vợ chồng hay gây gỗ, tình cảm vợ chồng không còn hạnh phúc. Cả hai đã không còn chung sống với nhau từ cuối năm 2019 cho đến nay. Nay bà Y nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông Đ.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng không có con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn ông Đinh Văn Đ: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, không khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đương sự tham gia tố tụng theo quy định; nhưng ông Đ vắng mặt không có lý do, không thể hiện ý kiến của mình bằng bất cứ văn bản nào nên vụ án không tiến hành hòa giải được và được đưa ra xét xử công khai.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

− Về tố tụng:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án và Thư ký Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về thẩm quyền thụ lý và trong quá trình giải quyết vụ án; Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định về việc xét xử sơ thẩm vụ án; tuy nhiên còn chưa đảm bảo về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án nguyên đơn thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định.

− Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Phạm Thị Ngọc Y khởi kiện yêu cầu được ly hôn với ông Đinh Văn Đ; bị đơn hiện cư trú tại xã P, huyện Q, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Về sự có mặt của các đương sự tại phiên tòa:

Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, bị đơn ông Định Văn Đ vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Nguyên đơn bà Phạm Thị Ngọc Y có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung:

Về quan hệ vợ chồng: Bà Y và ông Đ tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện N, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận kết hôn số 83/2018 cấp ngày 26/7/2018; do đó có cơ sở xác định hôn nhân giữa bà Y và ông Đ là hôn nhân hợp pháp được quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Y xác định giữa bà và ông Đ mâu thuẫn trầm trọng do bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, vì vậy bà Y yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Đ. Xét thấy, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa xét xử ông Đ vẫn vắng mặt, điều này chứng tỏ giữa hai người đã không còn chung sống và liên lạc gì với nhau, tình cảm vợ chồng đã không còn, cả hai không có thiện chí đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy giữa bà Y và ông Đ đã từ lâu hai bên ít còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau; do đó, xét thấy yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Ngọc Y đối với ông Đinh Văn Đ là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Bà Y xác nhận không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Y không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Nguyên đơn chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Điều 8; Điều 9; Điều 51; Điều 56 và Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

I. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Phạm Thị Ngọc Y đối với ông Đinh Văn Đ.

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Ngọc Y được ly hôn với ông Đinh Văn Đ.

Giấy chứng nhận kết hôn số 83/2018 đăng ký ngày 26 tháng 7 năm 2018 tại Ủy ban nhân dân thị trần M, huyện N, tỉnh Long An cấp cho bà Phạm Thị Ngọc Y và ông Đinh Văn Đ không còn giá trị pháp lý.

2. Về con chung: Bà Y xác nhận không có nên Tòa án không xem xét giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Y không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết.

4. Về án phí: Bà Phạm Thị Ngọc Y chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0008903 ngày 20/11/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Y đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

II. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Cỡ chữ