- Tranh chấp gì? "Nguyễn Tiến D - Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Tiến D và ông Nguyễn Quốc H.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 143 Luật Tố tụng hành chính; Điều 144 Luật Tố tụng hành chính
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO TÒA PHÚC THẨM TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 497/2026/QĐ-PT | Tp.Hồ Chí Minh, ngày 04 tháng 5 năm 2026 |
QUYẾT ĐỊNH
GIẢI QUYẾT VIỆC KHÁNG CÁO ĐỐI VỚI
QUYẾT ĐỊNH ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
TÒA PHÚC THẨM TÒA ÁN NHÂN DÂN NHÂN DÂN TỐI CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên họp:Ông Trần Văn Đạt
Các Thẩm phán:
Bà Nguyễn Thị Thúy Hòa
Bà Nguyễn Thị Cúc
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Ông Lê Tấn C - Kiểm sát viên.
Tại Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 726/2025/QĐST-HC ngày 22 tháng 9 năm 2025, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh căn cứ vào khoản 5 Điều 38, điểm g khoản 1 Điều 143 và Điều 144 của Luật Tố tụng hành chính, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính về “Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính” giữa:
- Người khởi kiện: Ông Nguyễn Văn G, sinh năm 1938 (chết năm 2025);
Những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông G:
1. Ông Nguyễn Tiến D, sinh năm 1963;
2. Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1981;
3. Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 1983;
4. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1971;
5. Ông Nguyễn Chiến S, sinh năm 1973;
6. Bà Nguyễn Thị G1, sinh năm 1976;
7. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1978;
Cùng địa chỉ: Khu phố S, phường T, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Người bị kiện:
1. Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Khu phố T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B;
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng: Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H.
Địa chỉ: Số H L, phường S, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Tiến D, sinh năm 1963;
2. Bà Nguyễn Thị C1, sinh năm 1981;
3. Ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 1983;
Cùng địa chỉ: Tổ C, khu phố S, phường T, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người đại diện theo ủy quyền của ông D, bà C1 và ông H: Bà Phạm Thị Linh D1, sinh năm 2000;
Địa chỉ: Số C B, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông D, bà C1 và ông H: Luật sư Lê Xuân H2 - Đoàn Luật sư Thành phố H.
4. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1971;
5. Ông Nguyễn Chiến S, sinh năm 1973;
6. Bà Nguyễn Thị G1, sinh năm 1976;
7. Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1978;
Cùng địa chỉ: Khu phố S, phường T, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (nay là phường T, Thành phố Hồ Chí Minh).
Tại đơn kháng cáo đề ngày 04/11/2025, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Nguyễn Văn G là ông Nguyễn Tiến D và ông Nguyễn Quốc H có đơn kháng cáo đối với Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 726/2025/QĐST-HC ngày 22 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp phúc thẩm phát biểu ý kiến: Tòa án cấp sơ thẩm ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 726/2025/QĐST-HC ngày 22 tháng 9 năm 2025 đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn G (có những người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng là ông Nguyễn Tiến D, bà Nguyễn Thị C1, ông Nguyễn Quốc H, bà Nguyễn Thị H1, ông Nguyễn Chiến S, bà Nguyễn Thị G1 và bà Nguyễn Thị T) là đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của đương sự, giữ nguyên quyết định đình chỉ của Tòa án cấp sơ thẩm.
XÉT THẤY:
. Xét yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn G:
. Ông Nguyễn Văn G khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Quyết định thu hồi đất số 4678/QĐ-UBND ngày 13/5/2011, Quyết định số 13393/QĐ-UBND ngày 09/12/2011 về điều chỉnh Quyết định số 4678/QĐ-UBND, Quyết định phê duyệt phương án bồi thường số 13627/QĐ-UBND ngày 13/12/2011 của Ủy ban nhân dân huyện T, Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 644/QĐ-UBND ngày 28/02/2017 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T và hành vi không giải quyết khiếu nại lần hai của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B.
. Căn cứ Thông báo số 165/TB-UBND ngày 28/4/2017 của Ủy ban nhân dân tỉnh B đã thụ lý đơn khiếu nại lần 2 của ông Nguyễn Văn G và tháng 4/2017. Tuy nhiên đến nay, Ủy ban nhân dân tỉnh B vẫn chưa ban hành quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 đối với ông Nguyễn Văn G.
Như vậy, thời hiệu khởi kiện của ông Nguyễn Văn G sẽ được tính kể từ thời điểm hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần 2, thời hạn giải quyết khiếu nại lần 2 được tính theo quy định tại Điều 37 Luật Khiếu nại năm 2011, cụ thể như sau:
“Thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý.
Ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn giải quyết khiếu nại không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý; đối với vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 70 ngày, kể từ ngày thụ lý.”
Tuy nhiên đến ngày 09/11/2023, ông Nguyễn Văn G mới nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính nêu trên thì đã quá thời hạn một năm kể từ khi hết thời hạn giải quyết khiếu nại lần 2. Vì vậy, thời hiệu khởi kiện của ông Nguyễn Văn G đã hết theo quy định tại khoản 3 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.
. Từ những nhận định trên, Hội đồng phúc thẩm xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm ban hành Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 726/2025/QĐST-HC ngày 22 tháng 9 năm 2025, là có căn cứ, đúng pháp luật. Ông Nguyễn Tiến D và ông Nguyễn Quốc H kháng cáo nhưng không cung cấp thêm tài liệu, chứng cứ mới để làm căn cứ chấp nhận kháng cáo, nên Hội đồng phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Tiến D và ông Nguyễn Quốc H, giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.
. Ý kiến của đại diện Viện Công tố và Kiểm sát xét xử phúc thẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh tham dự phiên họp đề nghị giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 726/2025/QĐST-HC ngày 22 tháng 9 năm 2025 của Tòa án cấp sơ thẩm, được chấp nhận.
. Về án phí hành chính phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Nguyễn Tiến D và ông Nguyễn Quốc H phải chịu án phí hành chính phúc thẩm theo quy định. Tuy nhiên, ông Nguyễn Tiến D là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 243 của Luật tố tụng hành chính năm 2015;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, giữ quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
1. Không chấp nhận kháng cáo của người khởi kiện ông Nguyễn Tiến D và ông Nguyễn Quốc H.
2. Giữ nguyên Quyết định đình chỉ giải quyết vụ án hành chính sơ thẩm số 726/2025/QĐST-HC ngày 22 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Án phí hành chính phúc thẩm:
Ông Nguyễn Tiến D được miễn án phí hành chính phúc thẩm.
Ông Nguyễn Quốc H phải chịu 300.000 đồng án phí hành chính phúc thẩm; Được khấu trừ số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm do ông Nguyễn Quốc H đã nộp theo biên lai số 0050593 ngày 18/5/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh; Ông Nguyễn Quốc H đã nộp đủ án phí hành chính phúc thẩm.
4. Quyết định này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định./.
| Nơi nhận: - VCTVKSXXPT tại TP.HCM; - TAND TP.HCM; - Thi hành án DS TP.HCM; - Các đương sự; - Lưu: VP, VT, HSVA (TVN). | TM. HỘI ĐỒNG PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP Trần Văn Đạt |