- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "BA.Cty Galaxy - Văn Linh"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Mua bán nợ X,
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 24 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 497/2024/DS-ST Ngày 24 tháng 9 năm 2024 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Sáu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hữu Danh, ông Phan Công Văn.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thanh Trúc Phương - Thư ký Toà án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Lâm Thị Thanh Thúy - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 128/2024/TLST-DS, ngày 23 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 486/2024/QĐXXST-DS, ngày 08 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 866/2024/QĐST-DS, ngày 29 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH mua bán nợ X; địa chỉ trụ sở: Tầng 5, khối E, toà nhà C, số Y Cộng Hoà, Phường 12, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Bà Hà Phương Hồng T1 – Chức vụ: Giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Lê T2, sinh năm 2000; cư trú: 02/112 Long Thạnh, xã Long Hoà, huyện Cần Giờ, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Văn bản ủy quyền số 9461/2024/AP.AG-XDT, ngày 28/6/2024). (Vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1991; cư trú: Ấp V, xã VT, huyện An Phú, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai của nguyên đơn cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 01/9/2016, ông Nguyễn Văn L ký hợp đồng hợp đồng vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20160901-104112-3313 với Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC vay số tiền 18.900.000 (Mười tám triệu chín trăm nghìn) đồng. Mục đích vay mua sắm tài sản, lãi thỏa thuận 68%/năm, thời hạn thanh toán 15 tháng với tổng vốn gốc, lãi phải trả 28.557.000 đồng. Cụ thể: 14 tháng đầu mỗi tháng thanh toán 1.904.000 đồng, tháng sau cùng thanh toán 1.901.000 đồng. Tiền vay đã được giải ngân ngày 05/9/2016.
Để đảm bảo cho khoản vay trên ông L đã ký kết hợp đồng thế chấp là xe máy Nhãn hiệu Yamaha, biển kiểm soát 67G1-357.16.
Ngày 28/12/2018, Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng chuyển nhượng khoản nợ trên cho Công ty TNHH Mua bán nợ X theo Hợp đồng mua bán nợ số VPBFC-CEOO-18-0006.
Theo Công ty TNHH Mua bán nợ X, quá trình thực hiện, ông L đã thanh toán được vốn gốc và lãi 5.712.000 đồng, số tiền còn nợ 30.341.546 đồng. Trong số còn nợ, vốn gốc là 16.256.716 đồng, lãi là 4.626.057 đồng, phí phạt 9.458.773 đồng.
Do khách hàng vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng đã ký kết, nên Công ty TNHH Mua bán nợ X kiện yêu cầu ông L thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc còn lại, không yêu cầu trả lãi và phí phạt. Đồng thời yêu cầu duy trì biện pháp bảo đảm nghĩa vụ thanh toán đối với xe mô tô biển số kiểm soát 67G1-357.16.
Về chứng cứ: Công ty TNHH Mua bán nợ X giao nộp: Bản sao Giấy phéo kinh doanh của Công ty X; Bản chính Giấy ủy quyền và đơn từ chối hòa giải; Hợp đồng tín dụng; hợp đồng thế chấp; Chứng minh nhân dân mang tên Nguyễn Văn L; Biên bản xác nhận khoản nợ đã mua bán; Hợp đồng mua bán nợ; Bảng kê lịch thanh toán và Lịch sử thanh toán chi tiết.
Toàn bộ nội dung vụ kiện và tài liệu, chứng cứ này Tòa án đã thông báo cho ông L theo Thông báo thụ lý số 426/TB-TLVA ngày 24/7/2024 và Thông báo về việc cung cấp tài liệu, chứng cứ của nguyên đơn ngày 02/8/2024. Tuy nhiên ông L không có ý kiến phản hồi và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ.
Theo kết quả định danh và xác minh của Tòa án, thì ông Nguyễn Văn L cư trú ấp Vĩnh Nghĩa, xã Vĩnh Trường, huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Quan điểm đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Tiến hành xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn, bị đơn là đúng quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố Tụng dân sự.
Về nội dung: Xác định ngày 01/9/2016, ông Nguyễn Văn L có ký hợp đồng vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20160901-104112-3313 với Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng SMBC vay số tiền 18.900.000 (Mười tám triệu chín trăm nghìn) đồng. Quá trình thực hiện có trả vốn gốc và lãi 5.712.000 đồng rồi ngưng. Xác định ông L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán, nên buộc ông L có nghĩa vụ thanh toán vốn gốc và lãi còn lại. Do phần nợ của ông L phía Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng đã chuyển nhượng cho Công ty TNHH Mua bán nợ X. Nguyên đơn chỉ yêu cầu ông L trả vốn gốc là có lợi cho bị đơn. Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Mua bán nợ X.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quyền khởi kiện và tư cách tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Văn L ký hợp đồng vay tiền với Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng. Khoản nợ của ông L đã được Công ty TNHH Mua bán nợ X mua lại từ Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng. Do đó Công ty TNHH Mua bán nợ X có quyền khởi kiện. Xác định Công ty TNHH Mua bán nợ X là nguyên đơn, ông Nguyễn Văn L là bị đơn.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Công ty TNHH Mua bán nợ X kiện yêu cầu ông L thanh toán khoản nợ vay còn lại theo hợp đồng mà ông L đã vay của Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng. Xét ông L là cá nhân, vay sử dụng vào mục đích tiêu dùng, xác định quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, là tranh chấp dân sự; bị đơn cư trú ấp Vĩnh Nghĩa, xã Vĩnh Trường, huyện An Phú, tỉnh An Giang. Căn các điều 26, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Về việc vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông L vắng mặt không lý do; người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin không tham gia phiên tòa. Như vậy các đương sự đã tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng, nên tiến hành xử vắng mặt họ là phù hợp quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thời hiệu: Trong vụ án này, các đương sự không yêu cầu áp dụng thời hiệu.
Về nội dung:
Về hình thức, nội dung hợp đồng: Hợp đồng vay vốn kiêm hợp đồng tín dụng số 20160901-104112-3313 giữa ông L với Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng được lập thành văn bản, hình thức vay tín chấp, có biện pháp bảo đảm; ông L có đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện thỏa thuận giao kết hợp đồng, nên đảm bảo về mặt hình thức. Nội dung Hợp đồng ghi nhận việc ông L nhận vay 18.900.000 đồng để sử dụng vào mục đích tiêu dùng, lãi suất 68%/năm. Tổng số tiền vay và lãi suất phải trả là 28.557.000 đồng, chia trả làm 15 kỳ.
Ngoài ra, các bên còn thỏa thuận mức lãi suất trong hạn, quá hạn, cơ chế điều chỉnh lãi suất, thông tin cá nhân khách hàng và cam kết của các bên. Hợp đồng được ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, nội dung và hình thức của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên và được pháp luật bảo vệ.
Về nội dung tranh chấp:
Theo Công ty TNHH Mua bán nợ X tính đến ngày 28/12/2018, ông L có trả vốn gốc và lãi 5.712.000 đồng, còn nợ 30.341.546 đồng. Trong số còn nợ, vốn gốc là 16.256.716 đồng, lãi 4.626.057 đồng, phí phạt 9.458.773 đồng. Nội dung này Tòa án đã thông báo nhưng ông L không có ý kiến. Căn cứ Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định số tiền ông L còn nợ vốn gốc, lãi và phí phạt là 30.341.546 đồng. Tuy nhiên Công ty TNHH Mua bán nợ X chỉ yêu cầu ông L trả vốn gốc mà không yêu cầu trả lãi và phí phạt là có lợi cho ông L.
Theo hợp đồng và lịch thanh toán, thời gian thanh toán lần đầu ngày 01/10/2016, lần cuối cùng 01/12/2017. Đến nay ông L chưa thanh toán đầy đủ nợ gốc và lãi suất theo thỏa thuận là vi phạm hợp đồng, là có lỗi. Do đó chấp nhận yêu cầu của Công ty TNHH Mua bán nợ X, buộc ông L có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ vốn gốc còn lại là 16.256.716 đồng.
Về yêu cầu duy trì tài sản thế chấp: Căn cứ Hợp đồng vay và hợp đồng thế chấp, xác định đây là hợp đồng vay có biện pháp bảo đảm. Tài sản đảm bảo là xe mô tô biển kiểm soát 67G1-357.16. Tuy nhiên Công ty TNHH Mua bán nợ X không cung cấp được đăng ký giao dịch bảo đảm và không cung cấp thông tin người đứng tên đăng ký xe mô tô 67G1-257.16, nên chưa đủ căn cứ để duy trì biện pháp bảo đảm theo yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, không chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn. Việc xử lý tài sản bảo đảm được xem xét trong giai đoạn thi hành án nếu nguyên đơn cung cấp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ theo quy định của pháp luật.
Về án phí:
Do yêu cầu thanh toán hợp đồng vay của Công ty TNHH Mua bán nợ X được chấp nhận, nên ông Nguyễn Văn L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức án phí có giá ngạch.
Hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho Công ty TNHH Mua bán nợ X.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng;
Căn cứ các điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ các điều 147, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 24; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Mua bán nợ X,
Buộc ông Nguyễn Văn L có trách nhiệm trả cho Công ty TNHH Mua bán nợ X số tiền 16.256.716 (Mười sáu triệu hai trăm năm mươi sáu nghìn bảy trăm mười sáu nghìn) đồng.
Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật và Công ty TNHH Mua bán nợ X có đơn yêu cầu thi hành án mà ông L không thi hành đầy đủ khoản tiền trên thì còn phải chịu lãi, theo mức lãi được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự, tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả tại thời điểm thanh toán.
Về án phí: Ông Nguyễn Văn L phải chịu 813.000 (Tấm trăm mười ba nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn lại cho Công ty TNHH Mua bán nợ X 407.000 (Bốn trăm lẽ bảy nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án TU/2023 số 0009652 ngày 22/7/2024.
Về quyền kháng cáo: Án tuyên công khai vắng mặt các đương sự. Thời hạn kháng cáo của Công ty TNHH Mua bán nợ X và ông Nguyễn Văn L là 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định.
(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang (1); - VKSND tỉnh An Giang (1); - VKSND huyện An Phú (1); - THADS huyện An Phú (1); - Các đương sự (2); - Lưu văn phòng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Văn Sáu |