- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Liên Quân"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị Kim L. Chị Đỗ Thị Kim L được ly hôn với anh Lâm Viết Q.
- Căn cứ chính? Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự…; luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án; luật tố tụng hành chính
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ---------------- Bản án: 496/2025/HNGĐ - ST Ngày: 09/12/2025 V/v: Tranh chấp Xin ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thu Hà
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khanh và bà Nguyễn Thị Cúc
Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng – Thư ký Toà án
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Cao Đức Lộc – Kiểm sát viên
Ngày 09/12/2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 5 – Hà Nội, Toà án nhân dân khu vực 5 – Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 326/2025/TLST-HNGĐ ngày 14/10/2025 về việc “Tranh chấp xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 144/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 17/11/2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị Kim L - sinh năm 1995
Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx cấp ngày 28/5/2023
Bị đơn: Anh Lâm Viết Q - sinh năm 1988
Căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx
Cùng nơi thường trú: thôn 1, xã Phù Đổng, thành phố Hà Nội.
(Chị L có mặt, anh Q vắng mặt và xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn xin ly hôn và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn là chị Đỗ Thị Kim L trình bày:
Về mặt tình cảm: Tôi và anh Lâm Viết Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 11/3/2014 tại UBND xã Đình Xuyên, huyện Gia Lâm (nay là xã Phù Đổng), TP. Hà Nội. Sau khi kết hôn, chúng tôi chung sống đến đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do kinh tế gia đình. Anh Q không cùng tôi lo toan, gánh vác cuộc sống, nuôi dậy các con. Mâu thuẫn đỉnh điểm đến tháng 10 năm 2024, mẹ chồng tôi đuổi tôi ra khỏi nhà. Tôi đã dọn ra ngoài thuê nhà sinh sống cùng các con từ đó đến nay. Chúng tôi đã sống ly thân từ tháng 10/2024 đến nay. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Q.
Về con chung: chúng tôi có 03 con chung:
Lâm Ngọc A, sinh ngày 06/11/2015
Lâm Như Y, sinh ngày 28/5/2019
Lâm Cát T, sinh ngày 21/01/2021
Hiện nay các cháu đang sinh sống cùng tôi. Khi ly hôn tôi yêu cầu được nuôi cả ba con và không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con. Vì hiện nay anh Q không có công ăn việc làm. Nếu không được tôi xin nuôi hai cháu lớn.
Về tài sản chung và công nợ: chúng tôi tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Lâm Viết Q trình bày:
Về quan hệ tình cảm: Tôi và chị Đỗ Thị Kim L kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 11/3/2014 tại UBND xã Đình Xuyên, huyện Gia Lâm (nay là xã Phù Đổng), TP. Hà Nội.
Tôi xác định vợ chồng tôi có mâu thuẫn từ đầu năm 2024 do chị L có người đàn ông khác. Chị L và ba con đã thuê nhà ở riêng từ cuối năm 2024. Chúng tôi đã sống ly thân từ tháng 3/2025 đến nay. Nay chị L xin ly hôn, tôi không đồng ý. Tôi vẫn muốn vợ chồng đoàn tụ cùng nuôi dậy con cái.
Về con chung: chúng tôi có 03 con chung:
Lâm Ngọc A, sinh ngày 06/11/2015
Lâm Như Y, sinh ngày 28/5/2019
Lâm Cát T, sinh ngày 21/01/2021
Nếu phải ly hôn tôi yêu cầu được nuôi 03 con và không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và công nợ: chúng tôi tự thỏa thuận, không yêu cầu tòa án giải quyết
Tòa án đã xác minh tại UBND xã Phù Đổng, thành phố Hà Nội, nơi anh Q và chị L đăng ký thường trú, thể hiện: Anh Q và chị L cư trú tại địa chỉ …xã Phù Đổng, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống anh chị mâu thuẫn từ thời gian nào và nguyên nhân mâu thuẫn là gì địa phương không biết. Thời gian gần đây chị L mới thông báo anh chị có mâu thuẫn về vấn đề kinh tế, chị L không hòa hợp với mẹ chồng. Nay chị L xin ly hôn với anh Q, đề nghị tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Về con chung đề nghị toà án xem xét giải quyết để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các cháu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hà Nội tham gia phiên toà phát biểu:
Toà án thụ lý giải quyết vụ án theo đúng quy định tại điều 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ các điều 19, 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình
+ Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L. Chị L được ly hôn với anh Q.
+ Về con chung: Giao cả ba con cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng đối với anh Q.
+ Tài sản, công nợ: Không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
- Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn anh Lâm Viết Q có nơi thường trú tại thôn 1, xã Phù Đổng, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân khu vực 5 – Hà Nội) thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành các quy định pháp luật của các đương sự:
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện đúng các quy định tại Chương X của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật.
- Về việc xét xử vắng mặt bị đơn:
Anh Q đã nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử và đề nghị tòa án xét xử vắng mặt. Hội đồng xét xử vắng mặt anh Q là phù hợp quy định tại khoản 1 điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
* Về quan hệ tình cảm: Chị Đỗ Thị Kim L và anh Lâm Viết Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 11/3/2014 tại UBND xã Đình Xuyên, huyện Gia Lâm (nay là xã Phù Đổng), TP. Hà Nội là hôn nhân hợp pháp. Theo chị L trình bày, sau khi kết hôn, anh chị chung sống đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về kinh tế và quan điểm sống. Anh Q không có trách nhiệm trong việc gánh vác, lo toan cuộc sống gia đình và nuôi dậy các con. Tháng 10/2024, chị L đã dọn ra ngoài sinh sống cùng ba con. Anh chị đã sống ly thân từ đó đến nay. Chị L xác định tình cảm vợ chồng đã hết và xin được ly hôn. Anh Q xác định vợ chồng anh có mâu thuẫn từ đầu năm 2024 do chị L có người đàn ông khác. Chị L và ba con đã thuê nhà ở riêng từ cuối năm 2024. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 3/2025 đến nay. Tuy nhiên, anh Q không đồng ý ly hôn, mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nuôi dậy con cái.
Hội đồng xét xử nhận thấy cuộc sống chung giữa chị L và anh Q không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Anh chị đều xác nhận cả hai đã sống ly thân. Tòa án đã tạo điều kiện cho anh chị có cơ hội được hòa giải đoàn tụ nhưng chị L vẫn kiên quyết xin ly hôn. Anh Q không muốn ly hôn nhưng không có các giải pháp cụ thể để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Nhận thấy, mâu thuẫn của vợ chồng anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị L là phù hợp với quy định tại điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình.
* Về con chung: Anh chị có 03 con chung là Lâm Ngọc A, sinh ngày 06/11/2015; Lâm Như Y, sinh ngày 28/5/2019 và Lâm Cát T, sinh ngày 21/01/2021. Xét thấy, anh Q và chị L đều có nguyện vọng nuôi cả ba con. Tòa án đã yêu cầu cung cấp chứng cứ chứng minh điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc các con nhưng anh Q không cung cấp. Chị L cung cấp tài liệu thể hiện có chỗ ở và thu nhập ổn định. Cả ba cháu hiện nay đang sinh sống cùng chị L. Cháu Ngọc A đủ tuổi lấy lời khai, có nguyện vọng ở cùng với mẹ. Các cháu đều là con gái, cần có sự dạy dỗ chỉ bảo của người mẹ là phụ nữ. Đáng lẽ giao cả ba cháu cho chị L nuôi dưỡng. Tuy nhiên, do anh Q cũng có nguyện vọng nuôi con, nên giao cháu Cát T cho anh Q trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; để gánh vác bớt một phần trách nhiệm cho chị L. Giao hai cháu Ngọc A và Như Y cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai.
* Về tài sản chung và nợ chung: chị L và anh Q không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 – Hà Nội là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
* Về án phí: Chị L phải nộp án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm không có giá ngạch.
Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; Điều 39; khoản 4 Điều 147, điều 266; điều 271, điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Khoản 2 Điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, luật tố tụng hành chính, luật tư pháp người chưa thành niên, luật phá sản và luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án số 85/2025/QH15 ngày 25/06/2025;
- Căn cứ Điều 19, 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;
- Căn cứ nghị quyết số 326/2016/NQ /UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án.
Xử:
1. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị Kim L. Chị Đỗ Thị Kim L được ly hôn với anh Lâm Viết Q.
2. Về con chung: Anh chị có 03 con chung là Lâm Ngọc A, sinh ngày 06/11/2015; Lâm Như Y, sinh ngày 28/5/2019 và Lâm Cát T, sinh ngày 21/01/2021. Sau khi ly hôn, chị L được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Ngọc A và Như Y. Anh Q được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Cát T. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con cho ai cho đến khi các cháu trưởng thành, đủ 18 tuổi hoặc đến khi có thay đổi khác theo quy định pháp luật.
Không ai được cản trở quyền thăm gặp và chăm sóc con chung.
3. Về tài sản chung và công nợ: không yêu cầu tòa án giải quyết.
4. Về án phí: Chị Đỗ Thị Kim L phải chịu 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0011209 ngày 13/10/2025 của Thi hành án dân sự TP. Hà Nội.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - TAND TP. Hà Nội; - VKSND khu vực 5 – Hà Nội; - Thi hành án dân sự TP. Hà Nội; - UBND xã Phù Đổng, TP. Hà Nội; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Thu Hà |