- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn B - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN! THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH! ! Bản án số: 496/2019/HS-PT Ngày: 05-11-2019 ! |
NHÂN!DANH!
NƯỚC!CỘNG!HÒA!XÃ!HỘI!CHỦ!NGHĨA!VIỆT!NAM!
TÒA!ÁN!NHÂN!DÂN!THÀNH!PHỐ!HỒ!CHÍ!MINH!
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Ngọc Thắng
Các Thẩm phán:
1. Ông Phan Văn Liệt
2. Ông Lê Công Huân
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Mỹ Phượng – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Trong ngày 05 tháng 11 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 434/2019/HSPT ngày 30 tháng 9 năm 2019 đối với bị cáo Nguyễn Văn B do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 125/2019/HS-ST ngày 22/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn!Văn!B, Giới tính: Nam; Sinh năm 1980 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký HKTT: Số 191 đường B1, Tổ 2, ấp B1, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: thợ hồ; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Nguyễn Văn B2 (chết) và con bà Võ Thị B3 (chết); Hoàn cảnh gia đình: Bị cáo có vợ và có 02 người con (con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2012); Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại (có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại không có kháng cáo:
Ông Trần Tấn Đ, sinh năm 1960; nơi đăng ký HKTT: Số 100/62 đường Đ1, Phường Đ2, quận Đ3, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Số 230 đường B1, Tổ 2, ấp B1, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt tại phiên tòa)
NỘI!DUNG!VỤ!ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 17/01/2017, ông Trần Tấn Đ đi bộ sang nhà của Nguyễn Văn B để dự tiệc cúng tổ nghề thợ hồ do B tổ chức. Trong lúc ăn uống, ông Đ và B xảy ra mâu thuẫn về chuyện gia đình, đất đai dẫn đến cự cãi. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, ông Đ tiếp tục nói chuyện cha ruột của B lấy chị ruột của B, B tức giận dùng tay phải đánh 02 cái trúng vào mũi và trán của ông Đ gây thương tích, làm ông Đ té ngã khỏi ghế, thì được mọi người can ngăn. Lúc này ông Đ bỏ ra đứng ở ngoài đường B1 và tiếp tục xúc phạm gia đình của B, B định đuổi theo ông Đ để đánh thì được mọi người can ngăn. Sau đó, ông Đ đi bộ về nhà lấy xe máy tự chạy đến Bệnh viện đa khoa Khu vực C điều trị thương tích. Ngày 21/01/2017, ông Trần Tấn Đ gửi đơn tố cáo Nguyễn Văn B. Đến ngày 25/02/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi khởi tố vụ án hình sự đối với Nguyễn Văn B. Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 1017/TgT.17 ngày 11/12/2017 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận đối với thương tích của ông Trần Tấn Đ như sau: Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 16%. Tại Công văn giải thích kết luận giám định pháp y về thương tích số 1017 ngày 03/01/2019 của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh với từng vết thương tích của Trần Tấn Đ đã kết luận: thương tích của Trần Tấn Đ: tại vùng trán phải có tỷ lệ 03%, gãy xương mũi có tỷ lệ 09%, tại tay phải có tỷ lệ 05%; cộng lùi ba tỷ lệ trên sẽ ra tỷ lệ 16,14% làm tròn số sẽ là 16%. Theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 125/2019/HS-ST ngày 22/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Áp dụng khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã sửa đổi, bổ sung năm 2017; Xử phạt: Nguyễn Văn B 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt chấp hành án. Bản án còn tuyên buộc bị cáo Nguyễn Văn B có trách nhiệm bồi thường thêm cho ông Trần Tấn Đ số tiền 54.402.122 đồng, được trừ vào số tiền bị cáo B đã nộp 40.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2019/0022033 ngày 12/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, bị cáo B còn phải bồi thường số tiền 14.402.122 đồng. Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo luật định. Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 05/9/2019 bị cáo làm đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, và đến ngày 01/11/2019 bị cáo làm đơn kháng cáo bổ sung xin Tòa án cấp phúc thẩm xem xét cho bị cáo được hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị cáo Nguyễn Văn B khai nhận toàn bộ hành vi như nội dung bản án sơ thẩm đã thể hiện, đồng thời bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.
- Bị hại Trần Tấn Đ trình bày rằng ông và bị cáo Nguyễn Văn B chỉ nói chuyện về lịch sử hai bên gia đình, ông không xúc phạm đến gia đình bị cáo B nhưng bị cáo đã có hành vi gây thương tích cho ông với tỷ lệ thương tật là 16%.
-!Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: sau khi phân tích hành vi của bị cáo theo nội dung của bản án sơ thẩm, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo là phù hợp nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.!
NHẬN!ĐỊNH!CỦA!TÒA!ÁN:!
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Vào khoảng 18 giờ 30 phút ngày 17/01/2017, ông Trần Tấn Đ đi bộ sang nhà của Nguyễn Văn B để dự tiệc cúng tổ nghề thợ hồ do B tổ chức. Trong lúc ăn uống, ông Đ và B xảy ra mâu thuẫn về chuyện gia đình, đất đai dẫn đến cự cãi. Đến khoảng 22 giờ 00 phút cùng ngày, ông Đ tiếp tục nói chuyện cha ruột của B lấy chị ruột của B, B tức giận dùng tay phải đánh 02 cái trúng vào mũi và trán của ông Đ gây thương tích, làm ông Đ té ngã khỏi ghế, thì được mọi người can ngăn. Sau đó, ông Đ đi bộ về nhà lấy xe máy tự chạy đến Bệnh viện đa khoa Khu vực C điều trị thương tích. Ngày 21/01/2017, ông Trần Tấn Đ gửi đơn tố cáo Nguyễn Văn B và đến ngày 25/02/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Củ Chi khởi tố vụ án hình sự đối với B. Theo Kết luận giám định pháp y về thương tích và Công văn giải thích Kết luận giám đinh pháp y của Trung tâm Pháp y – Sở Y tế Thành phố Hồ Chí Minh đã kết luận đối với thương tích của ông Trần Tấn Đ có tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 16%.
Với hành vi và tỷ lệ thương tật nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đối với bị hại Trần Tấn Được không có kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 125/2019/HS-ST ngày 22/8/2019 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, nhưng tại phiên tòa phúc thẩm, ông có trình bày rằng bản thân ông và bị cáo Nguyễn Văn B chỉ nói chuyện về lịch sử hai bên gia đình và ông không xúc phạm gì đến gia đình bị cáo B. Tuy vậy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, người làm chứng lại khai rõ về việc chính ông Đ đã có lời lẽ xúc phạm gia đình bị cáo B và bị cáo B đã dùng tay đánh gây thương tích đối với ông Được, nên lời trình bày nêu trên của ông Đ không có cơ sở để chấp nhận. [2] Ngày 22/8/2019, Tòa án xét xử sơ thẩm, đến ngày 05/9/2019 bị cáo Nguyễn Văn B làm đơn kháng cáo. Xét thấy đơn kháng cáo của bị cáo làm trong hạn luật định nên hợp lệ. [3] Xét nội dung kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn B đã có hành vi dùng tay đánh vào mũi và trán gây thương tích cho bị hại Trần Tấn Được với tỷ lệ 16%. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương nên cần có mức hình phạt nghiêm đối với bị cáo. Nhưng khi lượng hình, Hội đồng xét xử xem xét đến hành vi phạm tội, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hoàn cảnh và nhân thân của bị cáo. Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Văn B có các tình tiết giảm nhẹ là bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục một phần hậu quả; bị cáo thành khẩn khai báo; có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng cho bị cáo. Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn B có đơn xin tự nguyện nộp số tiền 14.402.122 đồng tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh để bồi thường toàn bộ số tiền thiệt hại cho bị hại như bản án sơ thẩm đã tuyên, điều này thể hiện thiện chí cũng như sự ăn năn hối cải của bị cáo. Ngoài ra, xét về nguyên nhân xảy ra sự việc thì bị hại cũng có một phần lỗi khi có lời lẽ xúc phạm gia đình bị cáo, thiết nghĩ cũng cần áp dụng các tình tiết này là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo. Như vậy, trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Văn B không có tình tiết tăng nặng, nhưng bị cáo có 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 như đã nêu ở trên, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, nguyên nhân xảy ra vụ việc có một phần lỗi của bị hại, xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, đồng thời ấn định thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị cáo và sửa bản án sơ thẩm. [4] Hành vi phạm tội của bị cáo xảy ra trước ngày 01/01/2018 nên áp dụng Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 để truy tố, xét xử bị cáo. Nhưng so sánh các khung hình phạt quy định tại Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009 với các khung hình phạt quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì mức hình phạt được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có lợi hơn cho người phạm tội. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2017, thì cần áp dụng Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử lý hình sự đối với bị cáo.
[5] Theo Bản án hình sự sơ thẩm đã tuyên buộc bị cáo Nguyễn Văn B có trách nhiệm bồi thường cho ông Trần Tấn Đ số tiền 54.402.122 đồng, được trừ vào số tiền bị cáo B đã nộp 40.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền số AA/2019/0022033 ngày 12/8/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, bị cáo B còn phải bồi thường số tiền 14.402.122 đồng. Ngày 04/11/2019, bị cáo B đã tự nguyện nộp thêm số tiền 14.402.122 đồng tại Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, để thuận lợi cho việc thi hành án thì cần cấn trừ số tiền 14.402.122 đồng mà bị cáo Nguyễn Văn B đã nộp vào số tiền 14.402.122 đồng mà bị cáo còn phải bồi thường thêm cho bị hại Trần Tấn Đ.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT!ĐỊNH:!
Căn cứ vào điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 30 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 584; Điều 585; Điều 586; Điều 590; Điều 357 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn B và sửa bản án sơ thẩm.
Xử phạt: Nguyễn Văn B 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm về tội “Cố ý gây thương tích”.
Giao bị cáo Nguyễn Văn B cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Buộc bị cáo Nguyễn Văn B có trách nhiệm bồi thường cho ông Trần Tấn Đ số tiền 54.402.122 đồng (năm mươi tư triệu, bốn trăm linh hai nghìn, một trăm hai mươi hai đồng), nhưng được trừ vào số tiền 40.000.000 đồng (bốn mươi triệu đồng) mà bị cáo Nguyễn Văn B đã nộp theo Biên lai thu tiền số: AA/2019/0022033 ngày 12/8/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi và cấn trừ vào số tiền 14.402.122 đồng (mười bốn triệu, bốn trăm linh hai nghìn, một trăm hai mươi hai đồng) mà bị cáo B đã nộp theo Biên lai thu tiền số: AA/2019/0024892 ngày 04/11/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo không phải nộp. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo)
TM.!HỘI!ĐỒNG!XÉT!XỬ!PHÚC!THẨM!
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; (1) - TAND Cấp cao tại TP.HCM; (1)!!!!!!!!!!!! - VKSND TP.HCM; (3) - VKSND huyện Củ Chi; (1) - P.PC 53 – CA TP.HCM; (1) - Bị cáo; (1) - Bị hại; (1) - Thi hành án huyện Củ Chi; (2) - TAND huyện Củ Chi; (2) - Công an huyện Củ Chi; (1) - UBND nơi BC cư trú; (1) - Sở Tư pháp; (1) - Lưu, Tòa Hình sự, Hồ sơ (22). (5)! | THẨM!PHÁN!–!CHỦ!TỌA!PHIÊN!TÒA! ! ! ! ! ! ! ! ! Ngô!Ngọc!Thắng! |