vanban.org

Bản án 495/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Mai H được ly hôn với ông Nguyễn Thanh P.

Về con chung: Bà H và ông P có 03 con chung tên Nguyễn Vũ Gia V, sinh ngày 07/02/2022, Nguyễn Vũ Gia H1, sinh ngày 19/12/2017, Nguyễn Vũ Gia B, sinh ngày 14/02/2013. Giao cháu Nguyễn Vũ Gia V, Nguyễn Vũ Gia H1 và Nguyễn Vũ Gia B cho bà H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mai H-Thanh P"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Mai H được ly hôn với ông Nguyễn Thanh P.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÓC MÔN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 495/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25-5-2023
Về việc: Ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÕA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Khanh

Ông Nguyễn Minh Thảo

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vui - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Tuyết Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 5 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 16/2023/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2023 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 110/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 117/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Vũ Mai H, sinh năm 1987;

Địa chỉ thường trú: A ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ tạm trú: 22 ấp G, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang (có mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1981;

Địa chỉ thường trú: A ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Vũ Mai H trình bày:

Bà và ông Nguyễn Thanh P tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn ngày 15/01/2013 tại UBND xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 10, quyển số 01/2013 do UBND xã T, huyện H cấp ngày 15/01/2013).

Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2021, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã. Mỗi lần xảy ra mâu thuẫn, ông P đánh đập, bạo hành bà. Mặc dù hai vợ chồng đã nhiều lần hàn gắn nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Vợ chồng bà đã sống ly thân từ năm 2021 tới nay.

Nay bà không thể duy trì mối quan hệ hôn nhân và không thể tiếp tục chung sống với ông P, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông P.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân với ông P, bà và ông P có 03 con chung tên là Nguyễn Vũ Gia V, sinh ngày 07/02/2022, Nguyễn Vũ Gia H1, sinh ngày 19/12/2017, Nguyễn Vũ Gia B, sinh ngày 14/02/2013. Từ khi hai vợ chồng sống ly thân cho đến nay, bà là người trực tiếp nuôi dưỡng cả 03 con chung, hàng tháng ông P có trợ cấp nuôi con.

Hiện nay, bà làm kế toán với thu nhập khoảng 7.000.000 đồng/tháng đến 8.000.000 đồng/tháng. Hàng tháng ông P có hỗ trợ chi phí nuôi con. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 03 con chung. Về cấp dưỡng nuôi con: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Trong thời kỳ hôn nhân với ông P, ông bà không có tài sản chung, nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Những người tiến hành và tham gia tố tụng đều tuân thủ đúng những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Bà H và ông P là vợ chồng hợp pháp từ ngày 15/01/2013. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hòa hợp, thường xuyên cãi vã. Ông P có hành vi bạo hành đối với bà H. Bà H và ông P đã ly thân từ năm 2021 đến nay, hai vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau, hôn nhân thực tế không còn tồn tại. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông P. Về con chung: Có 03 con chung tên là Nguyễn Vũ Gia V, sinh ngày 07/02/2022, Nguyễn Vũ Gia H1, sinh ngày 19/12/2017, Nguyễn Vũ Gia B, sinh ngày 14/02/2013. Hiện nay, cả 03 con chung do bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Để đảm bảo sự phát triển ổn định cho 03 con chung cũng như xét yêu cầu của bà H, xét nguyện vọng của cháu B mong muốn được sống chung với mẹ là phù hợp, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu V, cháu H1 và cháu B cho bà H tiếp tục nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Hai bên tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không có.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÕA ÁN:

[I] Về thủ tục tố tụng:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Quan hệ tranh chấp giữa bà H và ông P là tranh chấp về việc “ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; ông P có nơi cư trú tại huyện H nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tống đạt văn bản tố tụng: Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập cho bà H và ông P. Tại phiên tòa, bà H có mặt, ông P vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[II] Về nội dung vụ án:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông P tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn. Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 10, quyển số 01/2013 do UBND xã T, huyện H cấp ngày 15/01/2013, có đủ cơ sở xác định, bà H và ông P là vợ chồng hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của bà H đối với ông P: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định nhằm tạo điều kiện để bà H và ông P hòa giải, đoàn tụ với nhau nhưng bà H vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông P, ông P vắng mặt không rõ lý do. Bà H trình bày trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không còn đồng cảm được với nhau nên thường xuyên cãi vã. Mỗi lần vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, ông P có hành vi đánh đập bà H. Mặc dù bà H đã nhiều lần hàn gắn nhưng không thành, ông bà đã sống ly thân từ năm 2021 cho tới nay. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng bà H và ông P đã trầm trọng, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H về việc ly hôn với ông P.

[2] Về con chung: Bà H xác định trong thời kỳ hôn nhân với ông P, vợ chồng ông bà có 03 con chung tên Nguyễn Vũ Gia V, sinh ngày 07/02/2022, Nguyễn Vũ Gia H1, sinh ngày 19/12/2017, Nguyễn Vũ Gia B, sinh ngày 14/02/2013. Hiện nay, cả 03 con chung do bà H trực tiếp nuôi dưỡng.

Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng 03 con chung. Cháu B cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống chung với mẹ.

Xét nguyện vọng của bà H và cháu B là phù hợp cũng như để đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu V, cháu H1 và cháu B, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà H, giao cháu V, cháu H1 và cháu B cho bà H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Hai bên tự thỏa thuận, bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà H xác định trong thời kỳ hôn nhân với ông P, ông bà không có tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Vũ Mai H được ly hôn với ông Nguyễn Thanh P.

2. Về con chung: Bà H và ông P có 03 con chung tên Nguyễn Vũ Gia V, sinh ngày 07/02/2022, Nguyễn Vũ Gia H1, sinh ngày 19/12/2017, Nguyễn Vũ Gia B, sinh ngày 14/02/2013.

Giao cháu Nguyễn Vũ Gia V, Nguyễn Vũ Gia H1 và Nguyễn Vũ Gia B cho bà H được quyền trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vì lợi ích của con chung, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà H xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H phải chịu 300.000 đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số AA/2022/0015588 ngày 03/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn (đã nộp đủ).

5. Nguyên đơn (có mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn (vắng mặt) được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.

6. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ