- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 495/2020/HNGĐ-ST Ngày: 22/9/2020 V/v: “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Trần Ngọc Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Bà Dương Thị Nguyệt;
2.Ông Nguyễn Minh Phương.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Quyên – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân
Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 tham gia phiên tòa: Bà Lê
Thị Mỹ Vân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 9 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11,
Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 142/2020/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 5 năm 2020 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 59/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2020/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 9 năm 2020 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Vương Lê L, sinh năm 1982; địa chỉ; Số xxx/xx/x
đường Thái Phiên, Phường 8, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh, (có đơn xin vắng mặt);
Bị đơn: Ông Trương Quốc H, sinh năm 1983; địa chỉ: Số xxx/xx
đường Bình Thới, Phường 14, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Tại Đơn khởi kiện nộp ngày 02/3/2020, Bản tự khai, các Biên bản
hòa giải, nguyên đơn bà Vương Lê L trình bày:
Bà Vương Lê L và ông Trương Quốc H tự nguyện chung sống có đăng
ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 144 do Ủy ban nhân dân Phường 14, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 31/10/2003. Vợ chồng ông bà có 01 con chung Trương Tuyết N (Nữ, sinh ngày 17/3/2004).
Thời gian đầu kết hôn, hai bên sống rất hạnh phúc. Nhưng trong quá
trình chung sống, vợ chồng bà L ông H thường phát sinh nhiều mâu thuẫn, chủ yếu nguyên nhân từ việc ông H không lo cho gia đình, sử dụng ma túy. Ông H không phụ giúp kinh tế trong nhà, không phụ giúp việc nhà và không chăm sóc cho con chung. Năm 2018 bà L đã nộp đơn yêu cầu ly hôn lên Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh, tuy nhiên được sự thuyết phục, động viên của Tòa án, bà L đã rút đơn khởi kiện để hai bên cố gắng hàn gắn, lo cho con chung.
Tuy nhiên tình hình không được cải thiện. Hai bên đã tự sống ly thân từ
năm 2018 đến nay, không ai quan tâm thăm hỏi lẫn nhau. Con chung ở cùng với bà L, ông H không qua thăm nom con chung, không trợ cấp nuôi dưỡng con chung.
Nay nhận thấy tình cảm đối với nhau không còn, không thể tiếp tục
chung sống được nữa. Do đó bà L yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà L được ly hôn với ông H để hai bên giải thoát cho nhau khỏi ràng buộc giấy tờ.
- Về con chung: Có một con chung là Trương Tuyết N (Nữ, sinh ngày
17/3/2004). Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, trẻ N cũng có nguyện vọng muốn được ở với bà L. Bà L không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Bị đơn: Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Trương Quốc H không
đến Tòa án và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà L.
Theo kết quả xác minh của Công an Phường 14, Quận 11, Thành phố
Hồ Chí Minh ngày 25/5/2020: Đương sự Trương Quốc H, sinh năm 1983 có hộ khẩu thường trú tại xxx/xx đường Bình Thới, Phường 14, Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tòa án nhân dân Quận 11 đã thực hiện thủ tục niêm yết công khai, triệu
tập hợp lệ nhưng bị đơn không đến Tòa án giải quyết. Do đó, Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai đối với bị đơn và không thể tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải các bên. Tòa án nhân dân Quận 11 quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
3. Tại phiên tòa hôm nay:
a) Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
b) Bị đơn đã được Tòa án nhân dân Quận 11 triệu tập hợp lệ nhưng bị
đơn vắng mặt, không có lý do.
4. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 phát biểu ý kiến về việc
tuân theo pháp luật như sau:
a) Trong quá trình giải quyết vụ kiện và tại phiên tòa, Thẩm phán và
Hội đồng xét xử đã tuân thủ các quy định của pháp luật; nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, bị đơn không chấp hành nhưng đã được Tòa án tống đạt công khai, hợp lệ đảm bảo quyền lợi hợp pháp. Tuy nhiên, Tòa án chưa đảm bảo thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
b) Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà L;
- Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của bà L, giao trẻ Trương Tuyết N
(Nữ, sinh ngày 17/3/2004) cho bà Vương Lê L trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà L về việc không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án
giải quyết.
- Nguyên đơn chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định
của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra
tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn bà Vương Lê L khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông
Trương Quốc H, căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn ông H đang cư trú tại Quận 11, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh
2. Về việc xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn:
Ngày 10/8/2020, nguyên đơn là bà Vương Lê L có đơn đề nghị xét xử
vắng mặt nên căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.
Bị đơn là ông Trương Quốc H đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai
nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
3. Về yêu cầu của đương sự:
a) Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn:
Bà Vương Lê L và ông Trương Quốc H tự tìm hiểu rồi đăng ký kết
hôn năm 2003 trên cơ sở tự nguyện nên đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bà
L và Ông H bất đồng quan điểm trong cuộc sống về nhiều mặt. Hai người thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn. Hai ông bà đã tự sống ly thân hơn 03 năm nay, không ai can thiệp vào cuộc sống của nhau. Nay nhận thấy quan hệ hôn nhân không thể hàn gắn, bà L yêu cầu Tòa án nhân dân Quận 11 giải quyết cho ly hôn với ông H để hai bên sớm ổn định cuộc sống và để rõ ràng về mặt pháp lý.
Bị đơn ông H mặc dù đã được Tòa án nhân dân Quận 11 tống đạt các
văn bản tố tụng, giấy triệu tập đầy đủ và hợp lệ nhưng không đến Tòa án và cũng không có văn bản gửi cho Tòa án để trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu của bà L. Điều này cho thấy rằng ông H không mong muốn và không có thiện chí trong việc hàn gắn hạnh phúc gia đình.
Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà L và ông H đã đến mức trầm
trọng, tình cảm vợ chồng thật sự không còn, cuộc sống chung không mang lại hạnh phúc. Mục đích hôn nhân không đạt được, có duy trì hôn nhân cũng chỉ là hình thức.
Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi
vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.” Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà L xin ly hôn với ông H.
b) Về con chung: Con chung Trương Tuyết N (Nữ, sinh ngày
17/3/2004). Bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, trẻ N cũng có nguyện vọng được ở với bà L. Bà L không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
c) Về tài sản chung và nợ chung: Bà L khai không có và không yêu cầu
giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
d) Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà L phải nộp theo quy định của
pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điều 147,
Điều 227, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia
đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm b Khoản 1 Điều 3 Nghị quyết 326/2019/UBTVQH14
ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử :
1.Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của bà Vương Lê L.
Bà Vương Lê L được ly hôn với ông Trương Quốc H.
Giấy chứng nhận kết hôn số 144 do Ủy ban nhân dân Phường 14, Quận
11, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 31/10/2003 không còn giá trị.
2. Về con chung: Bà Vương Lê L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng
con chung là Trương Tuyết N (Nữ, sinh ngày 17/3/2004). Ghi nhận sự tự nguyện của bà L, không yêu cầu ông Trương Quốc H cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét
giải quyết.
4. Về án phí: Bà Vương Lê L phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ
thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu số AA/2019/0015464 ngày 28/4/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Về quyền kháng cáo: Bà Vương Lê L và ông Trương Quốc H vắng
mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
6. Các quyền và nghĩa vụ thi hành án của các đương sự được thực hiện
tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND Tp.HCM; - VKSND Quận 11, Tp.HCM; - Chi cục THADS Quận 11, Tp.HCM; - Các đương sự; - UBND Phường 14, Quận 11, Tp. Thành phố Hồ Chí Minh; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lý Trần Ngọc Phương |