vanban.org

Bản án 493/2023/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 26/07/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 26/07/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Ngọc H. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 03/2023/HS-ST ngày 17 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông về phần hình phạt.

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Ngọc H tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Xử phạt: Đỗ Ngọc H (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức - phạm tội làm giả tài liệu trong hồ sơ chào bán, niêm yết chứng khoán (điều 212 Luật sửa đổi, bổ sung…"
  • Tòa quyết gì? [1] Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Ngọc H. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 03/2023/HS-ST ngày 17 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông về phần hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 341 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 493/2023/HS-PT
Ngày: 26 – 7 – 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Thành Long

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Tửu

Bà Huỳnh Thanh Duyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Duy Minh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Thanh Sơn - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 202/2023/TLPT-HS ngày 27 tháng 3 năm 2023 đối với bị cáo Đỗ Ngọc H.

Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2023/HS-ST ngày 17 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

- Bị cáo có kháng cáo:

Đỗ Ngọc H, sinh năm 1984 tại tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: tổ dân phố D, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông; nghề nghiệp: Nguyên Cán bộ Công an nhân dân, đã bị khai trừ Đảng; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T bà Nguyễn Thị S vợ là Đỗ Thị T1 và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo tại ngoại (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Chị Võ Thị T2 sinh năm 1986; địa chỉ: tổ dân phố D, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.

2/ Chị Nguyễn Thị H2 năm 1992; địa chỉ: số G, tổ dân phố F, phường N, thành phố G, tỉnh Đắk Nông.

(Trong vụ án này người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo; không liên quan đến kháng cáo của bị cáo nên Tòa án không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2013, Công an tỉnh điều động Đỗ Ngọc H công tác tại Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - Cơ quan Cảnh sát điều tra (viết tắt CSĐT) Công an tỉnh Đ được giao nhiệm vụ tổng hợp báo cáo, thanh quyết toán kinh phí an ninh, quốc phòng.

Từ tháng 7 đến tháng 10-2021, H lợi dụng vị trí công tác, tiếp cận, khai thác thông tin trong hồ sơ lưu trữ, để làm giả 05 giấy xác nhận của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ 05 bị can (trong vụ án hình sự do cơ quan tiến hành tố tụng 02 cấp tỉnh Nghệ An giải quyết) có thành tích trong tố giác tội phạm trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, để các đối tượng giao, nộp cho cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Nghệ An, sử dụng làm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cụ thể như sau:

Nguyễn Thị H2 là người có mối quan hệ xã hội với H nên khoảng tháng 7-2021, thông qua mạng xã hội, H cung cấp thông tin đối tượng Nguyễn Thị H2 nhờ H làm giúp 01 giấy xác nhận người có công tố giác tội phạm cho đối tượng H2 thì H đồng ý. Sau đó, H soạn thảo, làm giả giấy xác nhận nội dung: Ngày 10-01-2021, Nguyễn Thị H2 là người đã báo tin cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đvề hành vi phạm tội của Lương Thế V. Sau đó, H chữ ký của Đại tá Đỗ Trọng H1 Thủ trưởng Cơ quan CSĐT dán vào giấy xác nhận giả rồi photo lại thành bản hoàn chỉnh mang lên Văn phòng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ để đóng dấu, nhưng không có bản gốc nên cán bộ văn phòng từ chối. Sau đó, H sử dụng điện thoại chụp hình chữ ký của Đại tá H1 mang đến Công ty TNHH A khắc dấu hình chữ ký của Đại tá H1 để đóng lên giấy xác nhận và lên Văn phòng Cơ quan CSĐT đóng dấu. Khi H giấy xác nhận giả đến, do nhìn thấy tài liệu có chữ ký mực xanh, giống màu bút mực ký trực tiếp nên cán bộ văn phòng cho H tìm và đóng dấu của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ giấy xác nhận giả, rồi đưa cho H2.

Với phương thức, thủ đoạn như trên, đến tháng 10-2021, H thêm 04 giấy xác nhận giả của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đcho 04 đối tượng khác, cụ thể:

- Giấy xác nhận về việc người có công tố giác tội phạm trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, ngày 03-9-2021, cấp cho Nguyễn Tất D nội dung: báo tin tố giác tội phạm vào ngày 05-01-2021 cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đđến ngày 01-02-2021 Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh Đbắt giữ được đối tượng Lương Thế V

- Giấy xác nhận về việc người có công tố giác tội phạm trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, ngày 16-12-2020, cấp cho Ngô Thị T3có nội dung: ngày 07-8-2020 đã báo tin tố giác tội phạm, đến ngày 25-8-2020 Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh Đbắt giữ được đối tượng Nguyễn Tấn D1

- Giấy xác nhận về việc người có công tố giác tội phạm trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, ngày 16-12-2020 cấp cho Hồ Thu T4có nội dung: ngày 09-8-2020 đã báo tin tố giác tội phạm, đến ngày 25-8-2020 Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh Đ bắt giữ được đối tượng Huỳnh Văn B.

- Giấy xác nhận (không có ngày tháng) về việc người có công tố giác tội phạm trong đấu tranh phòng, chống tội phạm, cấp cho Phạm H T5 có nội dung ngày 27-10-2020, từ thông tin tố giác của Phạm Hồng T1 quan CSĐT Công an tỉnh Đ bắt giữ đối tượng Phạm Ngọc T2

Tại Bản kết luận giám định số 190/GĐTL-PC09 ngày 27-11-2021 và số 37/KL-KTHS ngày 04-5-2022 của Phòng KCông an tỉnh Đkết luận: Hình dấu màu đỏ có nội dung “CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA CÔNG AN TỈNH ĐẮK NÔNG” trên tài liệu cần giám định so với hình dấu tròn màu đỏ có cùng nội dung trên tài liệu mẫu là do cùng một con dấu đóng ra. Chữ ký mang tên Đ tài liệu cần giám định không phải là chữ ký trực tiếp. Chữ ký được tạo ra bằng phương pháp đóng dấu.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 03/2023/HS-ST ngày 17 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, đã quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Ngọc H tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 341; các điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt Đỗ Ngọc H (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 27/02/2023, bị cáo Đỗ Ngọc H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Đỗ Ngọc H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xử mức án quá nặng và đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt và cho bị cáo hưởng án treo. Đồng thời bị cáo thực hiện hành vi phạm tội là do đối tượng tên H2nhờ và cung cấp thông tin cho bị cáo. Quá trình điều tra bị cáo đã khai báo, tuy nhiên cơ quan Cảnh sát điều tra không thực hiện việc điều tra đối với đối tượng này là không đảm bảo sự công bằng trước pháp luật.

Đại diện Viện kiểm nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông tuyên bố bị cáo Đỗ Ngọc H tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm b, c khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đồng thời khi quyết định hình phạt Tòa sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng không áp dụng tình tiết tăng nặng hình phạt “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội” theo điểm c khoản 2 Điều 52 Bộ luật Hình sự là thiếu sót. Tuy nhiên mức án 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù là không nặng, phù hợp với tính chất mức độ hành vi và hậu quả mà bị cáo gây ra. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Lời nói sau cùng, bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Đỗ Ngọc H đúng về hình thức, nội dung và được nộp trong thời hạn luật định nên là kháng cáo hợp lệ.

Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đỗ Ngọc H nhận toàn bộ hành vi như bản án sơ thẩm quy kết. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập có lưu trong hồ sơ được tranh tụng công khai, phù hợp với các tình tiết diễn biến khách quan của vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Lợi dụng vị trí công tác làm tổng hợp báo cáo, thanh quyết toán kinh phí an ninh, quốc phòng tại Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh ĐTừ tháng 7 đến tháng 10-2021, Đỗ Ngọc H tiếp cận, khai thác thông tin trong hồ sơ vụ án hình sự, sử dụng máy tính, con dấu của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đthuê khắc dấu chữ ký của Đại tá Đỗ Trọng H Thủ trưởng Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đ nhiều lần làm giả 05 giấy xác nhận người có công tố giác tội phạm trong đấu tranh phòng, chống tội phạm trên địa bàn tỉnh Đắk Nông, cho 05 đối tượng là bị can đã bị cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền tại tỉnh Nghệ An khởi tố, để các đối tượng giao nộp vào hồ sơ vụ án hình sự.

Tại Bản kết luận giám định số 190/GĐTL-PC09 ngày 27-11-2021 và số 37/KL-KTHS ngày 04-5-2022 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận: Hình dấu màu đỏ có nội dung “CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA CÔNG AN TỈNH ĐẮK NÔNG” trên tài liệu cần giám định so với hình dấu tròn màu đỏ có cùng nội dung trên tài liệu mẫu là do cùng một con dấu đóng ra. Chữ ký mang tên Đ tài liệu cần giám định không phải là chữ ký trực tiếp. Chữ ký được tạo ra bằng phương pháp đóng dấu.

Với hành vi trên, Toà án cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo Đỗ Ngọc H tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

Xét tính chất vụ án do bị cáo gây ra là nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước đối với con dấu, tài liệu, gây thiệt hại đến hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính về con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác. Mặt khác, tại thời điểm phạm tội, bị cáo công tác trong lực lượng Công an nhân dân, là nơi đấu tranh phòng chống tội phạm, nhưng vì vụ lợi bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi nêu trên, thể hiện sự xem thường pháp luật. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm để giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, xem xét nhân thân của bị cáo và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo 03 năm 06 tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” là không nặng, phù hợp với hành vi của bị cáo.

Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không có tình tiết giảm nhẹ nào mới. Các tài liệu như Huân chương kháng chiến, Bằng Tổ quốc ghi công… của người thân bị cáo để xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng các tài liệu này đã được cấp sơ thẩm xem xét, áp dụng theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đồng thời xét thấy, bị cáo đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhưng cấp sơ thẩm không áp dụng. Do đó đơn kháng cáo của bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với hành vi của Nguyễn Thị H2 và một số người khác mà bị cáo cho rằng liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Xét thấy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đđã tách hành vi của những người này để tiếp tục điều tra, xác minh nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

[1] Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đỗ Ngọc H. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 03/2023/HS-ST ngày 17 tháng 02 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông về phần hình phạt.

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Ngọc H tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng điểm b, c khoản 2 Điều 341; các điểm s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Đỗ Ngọc H (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

[2] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[3] Về án phí: Bị cáo Đỗ Ngọc H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

[4] Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ