vanban.org

Bản án 493/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Tiêu Quốc D về việc ly hôn với chị Lê Xuân P.

Về con chung: Tiếp tục giao các cháu Tiêu Quốc Hoài, sinh ngày 27/6/2006 (Giới tính: Nam) và Tiêu Thúy Hằng sinh ngày 30/4/2009 (Giới tính: Nữ) cho anh Tiêu Quốc D được trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Lê Xuân P không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Tiêu Quốc D về việc ly hôn với chị Lê Xuân P.
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 68 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRẦN VĂN THỜI
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 493/2022/HNGĐ-ST
Ngày 16-12-2022
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Chí Công

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Tới

2. Ông Huỳnh Văn Năm

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cẩm Hường - Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau.

Ngày 16 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 640/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 465/2022/QĐXX-ST ngày 15 tháng 11 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Tiêu Quốc D, sinh năm 1985 (có mặt).

Địa chỉ: Ấp P, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Chị Lê Xuân P, sinh năm 1982 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp P, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Tại đơn khởi kiện ngày 20/9/2022 và tại phiên tòa anh Tiêu Quốc D trình bày: Anh và chị Lê Xuân P chung sống với nhau từ năm 2005, hôn nhân tự nguyện; có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lợi An, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau (theo giấy chứng nhận kết hôn số 55 ngày 02/12/2005). Nguyên nhân dẫn đến ly hôn là trong thời gian chung sống lúc đầu sống hạnh phúc nhưng về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cải với nhau, chị P đã bỏ nhà đi từ đầu năm 2021 cho đến nay. Xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, anh xác định tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn được. Nay anh yêu cầu được ly hôn với chị P.

- Về con chung: Trong thời gian chung sống anh và chị P có 02 người con tên Tiêu Quốc Hoài, sinh ngày 27/6/2006 và Tiêu Thúy Hằng sinh ngày 30/4/2009, hiện đang sống chung với anh D. Khi ly hôn anh yêu cầu giải quyết theo nguyện vọng của các con ở với ai thì người đó nuôi.

- Về tài sản chung, nợ chung: Anh xác định tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

-Bị đơn chị Lê Xuân P: Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng nhưng chị Lê Xuân P vẫn vắng mặt không lý do; không có văn bản nêu ý kiến gửi đến Tòa án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn chị Lê Xuân P có nơi cư trú tại ấp Phạm Kiệt, xã Khánh Bình, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Anh Tiêu Quốc D khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với chị Lê Xuân P tranh chấp về nuôi con chung. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Anh D là người khởi kiện nên xác định tư cách đương sự anh D là nguyên đơn, chị P là bị đơn được quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 68 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Anh D có mặt, chị P vắng mặt; Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.

Về quan hệ hôn nhân: Anh D và chị P không còn tình cảm thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc giúp đỡ nhau, chị và anh đã vi phạm nghĩa vụ sống chung của vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh và chị đã sống ly thân hơn 10 tháng nay. Căn cứ Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh D, cho anh D được ly hôn với chị P.

Về con chung: Anh D và chị P có 02 người con chung tên Tiêu Quốc Hoài, sinh ngày 27/6/2006 và Tiêu Thúy Hằng sinh ngày 30/4/2009. Khi ly hôn anh yêu cầu Tòa án xem xét nguyện vọng của các con.

Xét, con chung tên Tiêu Quốc Hoài và Tiêu Thúy Hằng. Hiện nay các cháu đang sống cùng với anh D, từ khi anh và chị P sống ly thân đến nay các cháu sống cùng với anh D, gần gũi với anh, ổn định về thời gian, phát triển tốt về mọi mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, tiếp tục giao cháu Tiêu Quốc Hoài và Tiêu Thúy Hằng cho anh Tiêu Quốc D được trực tiếp nuôi dưỡng (Phù hợp với ước nguyện của các cháu Hoài và Hằng tại biên bản ghi ý kiến ngày 12/10/2022). Chị P không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

Về cấp dưỡng: Anh D không đặc ra, chị P không có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung và nợ: Anh D xác định tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc anh D phải chịu tiền án phí sơ thẩm về hôn nhân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81 Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Tiêu Quốc D về việc ly hôn với chị Lê Xuân P.

- Về con chung: Tiếp tục giao các cháu Tiêu Quốc Hoài, sinh ngày 27/6/2006 (Giới tính: Nam) và Tiêu Thúy Hằng sinh ngày 30/4/2009 (Giới tính: Nữ) cho anh Tiêu Quốc D được trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Lê Xuân P không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc nuôi dạy con chung không ai có quyền ngăn cản.

2. Về án phí: Anh Tiêu Quốc D phải nộp số tiền 300.000 đồng; ngày 12/10/2022 anh D đã dự nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005504 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, nay được chuyển thu án phí.

3. Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ